Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Chuông chùa trên địa bàn quận Liên Chiểu


Nguyễn Thị Lan Anh
Nguyễn Hoàng Thân



Chuông chùa trên địa bàn
quận Liên Chiểu




Trong bài viết “Di sản văn hóa Hán Nôm Đà Nẵng - nghiên cứu và giảng dạy” đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng, số 9 + 10 năm 2010 (in lại trong Tam thập, nhà xuất bản Đà Nẵng, 2010), chúng tôi có đề cập chuông chùa Đà Nẵng và đề xuất những hướng nghiên cứu liên quan. Bài viết này được hình thành từ sự gợi mở nêu trên. Qua đây, chúng tôi giới thiệu sâu kĩ thêm về chuông chùa trên địa bàn Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
1. Phân bố về thời gian và không gian
            Toàn quận có 12 ngôi chùa đang sinh hoạt thì có 10 ngôi chùa có chuông. Trong đó chùa nào cũng có ít nhất là một chiếc Đại hồng chung, có chùa còn có thêm gia trì chung, như chùa Nam Hải có tới 4 chung gia trì, chùa Hải Vân Sơn, chùa Ba Sơn, chùa Tịnh Quang có 2 chung gia trì và các ngôi chùa khác hầu như đều có 1 chiếc chung gia trì.
            Để tính sự phân bố chuông trên địa bàn quận Liên Chiểu, trước hết cần xem xét về sự  phân bố các ngôi chùa trên địa bàn quận.          Là một quận có ít chùa nhất so với các quận, huyện khác trong thành phố, mà lại phân bố không đều trên các vùng dân cư theo địa lý hành chính, trong đó:
            Phường Hòa Minh có 5 ngôi chùa: chùa Quang Minh, chùa Phước Lộc, chùa Hải Vân Sơn, chùa Tịnh Quang, chùa Bồ Đề Thiền Viện.
            Phường Hòa Khánh Bắc có 1 ngôi: chùa Đà Sơn
            Phường Hòa Khánh Nam có 1 ngôi: chùa Minh Phước
            Phường Hòa Hiệp Bắc có 2 ngôi: chùa Kim Quang, chùa Nam Hải.
            Phường Hòa Hiệp Nam có 2 ngôi: chùa Ba Sơn, chùa Nam Thành.
            Như vậy, tính theo sự phân bố về không gian giữa các ngôi chùa có chuông trên địa bàn quận ta thấy phường Hòa Minh có nhiều chuông nhất, số lượng bằng chuông phường Hòa Khánh và Hòa Hiệp cộng lại, điều này chứng tỏ người dân phường Hòa Minh rất đông người sùng đạo Phật, đó chính là lý do nhiều ngôi chùa được xây dựng tập trung nơi đây. Hiện phường Hòa Minh có thêm chùa Phước Lộc trùng tu lại cách đây không lâu, và chùa đang phát tâm vận động Phật tử hỉ cúng để đúc chuông, không lâu trong tương lai trên địa bàn quận Liên Chiểu sẽ có thêm chuông chùa Phước lộc.
            Cũng qua quá trình điền dã, trực tiếp phỏng vấn các trụ trì, người trông nom chính tại các chùa và qua tìm hiểu văn tự khắc trên chuông, chúng ta thấy rằng niên đại đúc chuông của từng ngôi chùa là khác nhau. Trên địa bàn quận Liên Chiểu, chuông có niên đại sớm nhất và cũng là một trong hai chiếc chuông cổ nhất thành phố Đà Nẵng là chuông chùa Đà Sơn được đúc vào cuối niên hiệu Cảnh Hưng thứ 16 năm 1755, đây chính là tài liệu ghi lại nhờ văn khắc chữ Hán trên thân chuông “景 興 拾 六 年 冬 季 月 榖 日 鑄/Cảnh Hưng thập lục niên đông quý nguyệt cốc nhật chú”. Chuông có niên đại sớm thứ hai là chuông chùa Nam Hải, đây cũng chính là một trong những ngôi chùa cổ nhất tại quận Liên Chiểu, theo lời văn khắc trên chuông: “ / Phật đà ứng thế nhị thiên ngũ bách niên”, như vậy chuông chùa Nam Hải được đúc vào khoảng năm 1956.
            Ngoài ra, cũng từ tài liệu dịch ra từ văn khắc bằng chữ Hán Nôm trên thân chuông, thì chuông chùa Kim Quang được đúc năm 1965, chuông chùa Hải Vân Sơn đúc năm 1966, chuông chùa Nam Thành đúc năm 1964, chuông chùa Quang Minh và chuông chùa Ba Sơn được đúc vào năm 1976, chuông chùa Minh Phước và chuông chùa Tịnh Quang được đúc năm 1972 và chùa có chuông đúc niên đại muộn nhất trong quận là chuông chùa Bồ Đề Thiền Viện đúc năm 1997.
            So với cả nước và thành phố Đà Nẵng, ngoài chuông chùa Đà Sơn thì niên đại chuông chùa quận Liên Chiểu rất muộn bởi nhiều lý do khác nhau: trước thế kỷ XIV (trước năm 1306) quận Liên Chiểu vẫn thuộc vùng đất của Chăm Pa, vì vậy khi đó nơi đây tồn tại Phật giáo Chăm Pa. Sau này, với vị trí là cửa ngõ của thành phố, nơi khởi đầu của sự giao tranh Nam tiến của người Đại Việt, vùng Liên Chiểu có sự di dân của các vùng từ Huế vào, người Đại Việt vào trong này muộn, chùa xuất hiện muộn nên chuông cũng ra đời muộn (hầu hết chuông chùa quận Liên Chiểu đều có niên đại cùng với niên đại thành lập chùa, nếu có chênh lệch thì cũng không đáng kể). Đạo Phật hoằng dương tại nơi này cũng muộn, tính cả thành phố Đà Nẵng có 2 quả chuông có niên đại lâu nhất là chuông chùa Đà Sơn (quận Liên Chiểu) và chuông chùa An Long (quận Hải Châu), trong đó chuông chùa Đà Sơn có niên đại lâu hơn tới nay trên 350 năm. Về đời sống kinh tế người dân còn gặp nhiều khó khăn, từ xưa tới nay, trong thành phố ngoài quận Thanh Khê và quận Hải Châu có kinh tế phát triển, Liên Chiểu chỉ là quận ngoại vi, khi xưa người Việt mới vào lập nghiệp dân cư thưa thớt, nên chùa chiền ít, ngày nay, dân số tăng, nhu cầu xây dựng chùa ngày cũng vì đó mà tăng lên.
            Nhìn vào sự phân bố về thời gian của từng chiếc chuông để thấy niên đại hình thành và kỹ thuật đúc chuông cùng thời với nó, những chiếc chuông có niên đại muộn thường to hơn, dày hơn, chuông có bề mặt mịn hơn do kỹ thuật đúc đồng ngày càng hiện đại hơn.
2. Kích cỡ và hoa văn
2.1. Kích cỡ   
            Từ việc đi điền dã trực tiếp tại các ngôi chùa, khảo sát từng chiếc đại hồng chung, đo đạc, phỏng vấn các vị trú trì, người trông nom quản lý chùa, dịch nghĩa các văn tự khắc trên chuông và ghi chép, chúng tôi đã tập hợp bảng số liệu về kích cỡ chuông chùa quận Liên Chiểu.
            Do cách đo đạc thủ công nên số liệu có thể không chính xác tuyệt đối từng mm, nhưng sự chênh lệch không đáng kể.


BẢNG SỐ LIỆU VỀ KÍCH CỠ CHUÔNG CHÙA QUẬN LIÊN CHIỂU

TT
Chuông Chùa
Chiều cao
(cm)
Chu vi đáy
(cm)
Chu vi gần đai
(cm)
Cân nặng
(kg)
(~)
1
Ba Sơn
127
184
155
160
2
Bồ Đề Thiền Viện
172
297
245
650
3
Đà Sơn
147
211
180
450
4
Hải Vân Sơn
114
193
160
200
5
Kim Quang
114
173
145
160
6
Minh Phước
123
193
160
250
7
Nam Hải
138
198
154
200
8
Nam Thành
122
184
157
160
9
Quang Minh
140
228
192
400
10
Tịnh Quang
140
228
192
500
            Để có được bảng số liệu trên, chúng tôi trực tiếp dùng thước đo đạc từng chiếc chuông. Chiều cao được tính từ đỉnh quai chuông xuống tới miệng chuông, chu vi đáy là độ rộng gần miệng chuông. Chu vi gần đai chuông là chu vi nhỏ nhất trên thân chuông, đây là điểm gắn với quai chuông. Riêng về trọng lượng chuông thì có nhiều bất cập. Có một số chuông, chỉ số cân nặng được khắc chính xác trực tiếp trên thân chuông, như chuông chùa Đà Sơn có ghi: “ /Hồng chung trọng tứ bách ngũ thập cân” có nghĩa chuông này nặng 450 cân, hay chuông Ba Sơn có ghi: “一百六十箕卢/nhất bách lục thập kilô” tức chuông nặng 160 kg. Việc cân nặng của chuông phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể khi đúc chuông kinh tế dân làng dư giả, đồng nhiều chuông sẽ đúc to hơn, hay mỗi chuông có độ dày mỏng khác nhau, chuông càng dày thì càng nặng và càng mỏng thì càng nhẹ. Có chuông không ghi rõ cân nặng như chuông chùa Tịnh Quang mà số liệu trên được trích “Ngày 19/06 Nhâm Tý (1972) thầy Tịnh giác đã chú nguyện Đại hồng chung nặng trên 500 cân, dưới sự chứng minh của hòa thượng Thích Tôn Thắng”[1]. Các chuông còn lại phần lớn lấy tư liệu từ việc phỏng vấn các trú trì và người trông nom trong chùa, tuy rằng số liệu này chỉ ở dạng tương đối vì thật sự ít ai đem chuông ra cân, chỉ nghe tương truyền lại mà thôi.
            Nhìn vào bảng số liệu, chuông chùa Bồ Đề Thiện Viện là có kích cỡ lớn nhất, chuông chùa này to hơn hẳn mấy chuông chùa khác trong khu vực, lý do một phần do chuông mới đúc cách đây không lâu, chuông có niên đại muộn nhất trong quận, lúc bấy giờ kinh tế đã phát triển hơn trước, người dân có đủ kinh phí để thu mua đồng về đóng chiếc chuông có cỡ lớn như vậy.
            Chuông to thứ hai là chuông chùa Tịnh Quang, tuy rằng kích thước của chuông này ngang bằng chuông Quang Minh nhưng cũng có thể chuông được đúc dày hơn nên trọng lượng lớn hơn. Hầu hết các quả chuông còn lại trong quận có kích thước ngang ngang nhau, số đo có chênh lệnh, ngoài trừ chuông Đà Sơn thì các chuông còn lại có dáng dấp tựa tựa nhau, thiết kế theo mẫu chuông chùa thời Nguyễn, cân nặng tuy có chênh lệch nhưng chủ yếu vẫn là do độ dày mỏng của chiếc chuông đó thế nào.
2.2. Hoa văn
            Hoa văn in hay khắc trên các đồ vật xưa nay vẫn là một dẫn liệu khá quan trọng giúp chúng ta nghiên cứu chuyên sâu hơn về giá trị của hiện vật cần nghiên cứu, đơn giản khi các nhà nghiên cứu lịch sử mỹ thuật về họa tiết hoa văn của một đồ vật nào đó, ví dụ như hình chạm rồng chẳng hạn, nhìn vào cách vẽ hay khắc hình dáng của rồng, người ta có thể đoán được đó là rồng thời Nguyễn hay rồng thời Lê… Chuông chùa cũng vậy, dựa vào hình dáng, họa tiết của hoa văn khắc trên chuông mà các nhà nghiên cứu có thể biết rõ hơn về lịch sử cũng như giá trị văn hóa của từng chiếc chuông.
            Quá trình tìm hiểu về mười chiếc chuông trên địa bàn quận Liên Chiểu cho thấy: đa phần các đại hồng chung có hoa văn trang trí rất đơn giản song nhìn vào bố cục chung của chiếc chuông lại thấy rất thanh thoát và hài hòa, mỗi chiếc chuông có một lối trang trí riêng, có phần thì giống với các chiếc chuông khác trong khu vực song cũng có chỗ tạo nên điểm riêng cho từng chiếc chuông.
*Về hình dáng chung
            Đa phần chuông trên địa bàn quận Liên Chiểu có dáng hơi bầu bầu, miệng loe, cách tạo dáng chuông rất đẹp, mà các nhà nghiên cứu chuông cho rằng đó chính là dáng chung của chuông thời Nguyễn lúc bấy giờ. Đối sánh với chuông cổ người Việt như hai quả chuông cổ nhất Việt Nam là chuông Thanh Mai (Hà Tây cũ) và chuông Nhật Tảo (Từ Liêm – Hà Nội), thấy rằng hình dáng chuông cổ Việt Nam có dạng trên to dưới nhỏ giống chiếc nơm bắt cá của người Việt, hoàn toàn khác với hình dáng của những chiếc chuông quận Liên Chiểu. Khi tìm hiểu chuông chùa quận Liên Chiểu, chuông chùa Đà Sơn có dáng khác nhất so với các quả chuông trong khu vực. Theo miêu tả của nhà nghiên cứu Lê Xuân Thông: “Dáng chuông xuôi thẳng, thành choãi, vai gấp đột ngột, miệng gãy góc và loe rộng. Vì vậy, khi nhìn vào, chúng ta có cảm giác khô cứng và có phần mất cân đối về tỷ lệ giữa chiều cao với độ rộng trung bình của thân chuông, và nhất là giữa độ cao quai và thân”[2], nhìn hình dáng tổng thể thấy chuông Đà Sơn có thể đã bị ảnh hưởng bởi dáng dấp của văn hóa Chăm (nền văn hóa mang tín ngưỡng phồn thực sâu sắc).
*Về quai chuông
            Khi nhìn vào quai chuông của những chiếc chuông quận Liên Chiểu mọi người sẽ dễ lầm tưởng đó là hình ảnh của hai con rồng đấu lưng vào nhau. Nhưng thực chất trong bài kệ Khai Hồng Chung[3] có nêu: “Bồ lao nhất chuyển hướng chung thinh/ Phạm sát kình chùy chấn địa minh/ Lục thú tài văn phiền não tức/ Tam đồ sạ thính khổ toan đình/ Nam mô Siêu Thập Địa Bồ tát” (Con Bồ lao mỗi khi chuyển mình, dẫn theo tiếng chuông. Tiếng chày cá kình ở cửa chùa làm chấn động cõi u minh. Sáu nẻo luân hồi vừa nghe được thì phiền não dứt. Ba nẻo ác chợt nghe thì khổ đau dừng lại. Như vậy chính xác thì con vật được đúc trên quai chuông là hai con Bồ lao. Theo truyền thuyết dân gian, rồng có 9 con: Bị hí, Li vẫn, Bồ lao, Bệ ngạn, Thao thiết, Công phúc, Nhai xế, Toan nghê, Tiêu đồ, Tù ngưu, Trào phong, Phụ hí. Bồ lao là con thứ ba của rồng, là linh vật thích âm thanh lớn, tiếng kêu của nó rất to, vang rất xa, thường được đúc trên quai chuông với mong muốn chiếc chuông được đúc có âm thanh như ý muốn. Tất cả quai chuông ở quận Liên Chiểu đều hình con bồ lao 2 đầu, 4 chân bám vào chuông, mặt ngoảnh về hai hướng, miệng ngậm ngọc, tuy rằng việc trang trí quai chuông ở các chùa khác nhau trong quận cũng có chút khác biệt, có nơi trang trí bằng cạp bồ lao lớn, nơi nhỏ, có con có vẻ hiền dịu mềm mại nhưng cũng có con hình thù dữ dằn hơn. Riêng con bồ lao trên quai chuông chùa Bồ Đề Thiền Viện có vẻ to nhất, ngoài ra trên đấu lưng của con bồ lao có trang trí thêm trụ hình hoa sen trong Phật giáo.
*Về thân chuông
            Hầu hết chuông trên địa bàn quận Liên Chiểu đều trang trí hoa văn và bố trí văn tự giống nhau, duy chỉ có chuông chùa Đà Sơn có khác một chút về cách bố trí trên thân chuông.
            Phía trên cùng gần quai chuông thường là đường diềm chạy quanh chừng 5 – 7cm, được trang trí khác nhau, có chuông khắc hình bánh xe pháp luân như chuông chùa Bồ Đề Thiền Viện; chuông để trống như chuông chùa Nam Thành, chuông chùa Đà Sơn, chuông chùa Nam Hải; chuông trang trí hoa sen như chuông chùa Minh Phước; chuông trang trí lá bồ đề như chuông chùa Ba Sơn; chuông khắc chữ như chuông chùa Nam Hải, chuông chùa Tịnh Quang, chuông chùa Kim Quang, chuông chùa Quang Minh. Tiếp xuống cũng là một đường diềm trang trí hoa văn, thường thì người ta khắc hình hoa sen hay lá bồ đề biểu trưng cho Phật giáo.
            Phía giữa thân chuông chính là phần chính, hầu hết các chuông đều chia thành 8 ô lớn, 4 ô trên và 4 ô dưới. Để tiện cho việc miêu tả chúng tôi tạm gọi 4 ô phía trên là A1, A2, A3, A4 và 4 ô  phía dưới là B1, B2, B3, B4. Riêng chuông chùa Đà Sơn chỉ gồm 4 ô chính (đây cũng chính là nét cá biệt để nhận dạng chuông chùa thời Nguyễn và thời tiền Nguyễn).
            Các ô ở vị trí A1, A2, A3, A4 các chuông chùa thường dành để khắc 4 chữ Hán lớn về chuông chùa của mình như: Kim Quang Tự Chung, Bồ Đề Thiền Viện… Còn với các ô B1, B2, B3, B4 các chuông thường khắc những bài minh văn bằng chữ Hán, đôi khi có cả chữ Phạn hay chữ Nôm, chữ Quốc ngữ. Và ở giữa các ô lớn thường là một đường chỉ nổi chạy quanh thân chuông rộng chừng 10cm khắc hình bình bầu trong đồ Bát bửu hay hình chữ Vạn trong Phật giáo.
            Phía dưới gần miệng chuông thường được trang trí bằng những dải hoa văn hình hoa cúc dây – biểu trưng của sự trường tồn và tuổi thọ.
*Về núm chuông
            Hầu hết tất cả các chuông trên địa bàn quận Liên Chiểu đều có 4 núm,  4 núm chuông tương ứng với 4 mặt Đông - Tây - Nam - Bắc, và cũng được quy định cách đánh của 4 mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông, mùa nào đánh vào núm chuông quy định của mùa đó, núm chuông được chạm dạng hình mặt trời. Duy chỉ có núm chuông chùa Quang Minh được chạm bằng hình vòng thái cực lưỡng nghi âm – dương. Và cũng chỉ có chuông chùa Đà Sơn là duy nhất có tới 8 núm chuông, ngoài 4 núm chính dùng để đánh chuông thì còn có thêm 4 núm nhỏ bên trên cũng có thể chỉ làm họa tiết trang trí thêm cho chuông ngôi chùa này.
            Xung quanh 4 núm chuông là mô típ trang trí phổ biến: “lưỡng long triều nhật”, hình ảnh của hai con rồng chầu mặt trời lửa (biểu tượng của núm chuông). Ngoài ra, còn phổ biến với hình chạm tứ linh “long – lân – quy – phụng vây quanh mặt trời”, tứ linh trong tâm thức người Việt cổ mang sự giàu sang, phú quý, phúc thọ. Long thể hiện sự nhanh nhẹn, uyển chuyển; Ly mạnh mẽ, kiên định; Quy biểu trưng cho lâu dài, trường tồn; Phụng là sự giàu sang, phú quý. Hình ảnh rồng, rùa, phượng, lân chạm với mây, gió uyển chuyển nhẹ nhàng, hư ảo tinh tế và đẹp mắt nhưng tạo khí thiêng từ những con vật linh thiêng này. Riêng chuông chùa Nam Hải, đường hoa văn dưới cùng gần miệng chuông là 8 biểu tượng của Bát quái: Càn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài. Vừa có ý nghĩa chỉ 8 phương hướng, vừa bao hàm tổng thể cả vũ trụ.
*Về miệng chuông
            Miệng chuông trên tất cả chuông chùa trên địa bàn quận Liên Chiểu đều đúc loe ra. Cách trang trí hoa văn có khác nhau, có chuông thì trang trí cầu kì, có chuông thì trang trí đơn giản, nhưng lại có chuông bỏ trống, không trang trí.
            Một số mô típ chủ yếu được trang trí như: hình vân mây, hình sóng nước hay hình hoa sen. Với miệng chuông chùa Đà Sơn, Kim Quang, Quang Minh người đúc sử dụng họa tiết hình hoa sen. Hoa sen là loài hoa biểu trưng của Phật giáo, loài hoa mọc lên từ bùn mà sắc hương thanh tao, bất nhiễm, sạch sẽ, đẹp dịu dàng và cũng là nơi khi Phật sinh ra, 7 bước đi của Ngài trên 7 bông sen. Đó là hình ảnh thiêng liêng của Phật giáo. Trên miệng chuông chùa Hải Vân Sơn, Tịnh Quang, Bồ Đề Thiền Viện là đường diềm hình vân mây và sóng nước, dáng to khỏe, nối tiếp nhau xung quanh miệng chuông, tạo thế chắc chắn cho miệng chuông, vừa mang tính thẩm mỹ nhưng vừa mang ý nghĩa luân hồi của con người, hết kiếp này cho tới kiếp khác nối tiếp nhau. Còn với chùa Minh Phước, Nam Thành, Ba Sơn, Nam Hải ưa lối đơn giản, không cầu kì, bỏ trống, không trang trí gì cả.

3. Văn tự và nội dung văn chuông
            Trải hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để sáng tác trước thuật, để ghi chép các công văn, tài liệu và khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, v.v.. và cùng nhiều loại tư liệu thành văn khác, ngày nay chúng ta gọi chung là di sản Hán Nôm.
            Văn khắc là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa thành văn nói chung và di sản Hán Nôm nói riêng, là hiện tượng văn hoá được nảy sinh từ đời sống xã hội, là nét đặc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ. Văn khắc xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn khắc ở các nước sử dụng chữ tượng hình (chữ khối vuông) bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Văn tự khắc trên thân chuông là nguồn sử liệu quan trọng, thường mỗi quả chuông chùa có những bài văn khắc mà nội dung đôi khi không nhất thiết chỉ để thuyết giảng Phật pháp. Nó còn là một tác phẩm văn học và là một nguồn sử liệu quý giá.
            Quận Liên Chiểu có tổng cộng 10 chiếc Đại hồng chung tại mười chùa khác nhau. Xét về mặt giá trị, có thể nói chuông chùa Đà Sơn mang trên mình nhiều giá trị nhất, không chỉ có giá trị về lịch sử mà văn tự Hán Nôm được khắc trên thân chuông là nguồn tài liệu vô cùng quý giá. Tuy vậy, 10 chiếc Đại Hồng chung nhưng chiếc nào cũng có những bài văn minh bằng chữ Hán cả, đôi khi có chữ Phạn và chữ Nôm. Mỗi bài văn chuông mang một ý nghĩa riêng, tạo giá trị riêng cho từng chiếc chuông, Nhờ đó mà các nhà nghiên cứu có thể thẩm định được niên đại đúc chuông, hay những thông tin khác liên quan tới ngôi chùa và chiếc chuông đó. Để rõ hơn cho công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi trình bày nguyên văn từng văn tự khắc trên từng quả chuông trên địa bàn quận Liên Chiểu, có thêm phần phiên âm, dịch nghĩa và phụ chú.
            Từ những văn tự khắc trên chuông chùa trên địa bàn quận Liên Chiểu để thấy, đó chính là những cứ liệu lịch sử chính xác nhất liên quan tới chiếc chuông hay ngôi chùa mà có chiếc chuông đó.
            Về nội dung minh văn trên thân chuông chùa quận Liên Chiểu, nhìn chung, so với các quận huyện khác trong thành phố Đà Nẵng cũng như trên cả nước có phần đơn giản. Tính trong số mười chiếc chuông trong quận thì chỉ duy nhất chuông chùa Đà Sơn nội dung khắc trên thân chuông là đầy đủ hơn cả. Nhìn vào nội dung minh văn được trình bày phần trên, chúng ta thấy đa phần chuông trên địa bàn quận Liên Chiểu đều có khắc bài “Minh chung” và “Văn chung”, năm đúc chuông, ngoài ra có thêm 4 chữ Hán cỡ lớn thể hiện triết lý Phật pháp hay mang tên chuông và chùa đó: Pháp luân thường chuyển, Ba Sơn tự chung, Bồ Đề Thiền Viện… riêng chùa Nam Hải có thêm biểu tượng của Bát quái, chuông chùa Đà Sơn khắc rõ nguồn gốc xuất xứ, ý nghĩa tiếng chuông, cũng như cân nặng hay năm đúc chuông. Cũng bởi lý do đó mà duy nhất chuông chùa Đà Sơn được thành phố công nhận di sản văn hóa và cũng là chiếc chuông có giá trị nhất thành phố Đà Nẵng.
            Văn tự khắc trên chuông gồm nhiều loại chữ viết, đa phần là chữ Hán, có một số chuông khắc thêm chữ Nôm như chuông chùa Minh Phước hay có chữ Phạn như chuông chùa Quang Minh hay chuông chùa Nam Hải.             Nhìn chung, tuy rằng số lượng văn tự khắc trên thân chuông chùa quận Liên Chiểu không nhiều nhưng với những gì chúng ta có được thì đó cũng là những sản phẩm văn hóa đáng quý của dân tộc, thể hiện trình độ văn minh khắc chữ trên đồng của dân tộc ta.
***
            Có thể nói, chuông chùa trên địa bàn quận Liên Chiểu tuy rằng không nhiều, văn tự khắc trên chuông còn ít so với những chiếc chuông khác trong thành phố và cả nước, nhưng không phải vì thế mà chuông chùa quận Liên Chiểu không mang giá trị gì cả. Cái quý giá mà nó có được chính là nét văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu với người dân quận Liên Chiểu, với những Tăng ni Phật tử, với những ai mộ đạo và tôn thờ Phật.
 


[1] Thành hội Phật giáo thành phố Đà Nẵng, Kỉ yếu Đại hội Phật giáo quận Liên Chiểu khóa IV - nhiệm kì 2011 - 2016, tr.61.
[2] Hội Khoa học lịch sử thành phố Đà Nẵng (2012), Nghiên cứu lịch sử xứ Quảng, tr.92.
[3] Thích Hoàn Quan (2010), Nghi lễ và bách sự nhật dụng, Nxb. Đồng Nai, tr.87.

Truyện cổ dân gian Việt Nam với vấn đề dựng nước và giữ nước


Bùi Văn Tiếng

Truyện cổ dân gian Việt Nam
với vấn đề dựng nước và giữ nước


1. Truyện cổ dân gian Việt Nam có nhiều truyện chủ yếu phản ánh quá trình dựng nước của người Việt. Truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh kể về cuộc chạy đua giành công chúa Mỵ Nương của hai vị thần Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, thực chất là sự thể hiện tư duy địa - chính trị của người Việt cổ. Giữa Sơn-Tinh-miền-núi và Thủy-Tinh-miền-biển, người Việt thời đại Hùng Vương sẽ chọn địa bàn nào để làm trung tâm chính trị của nước Văn Lang? Câu trả lời là chọn địa bàn miền núi với lợi thế thiên về phòng thủ của núi rừng - sự lựa chọn này kéo dài đến đời nhà Đinh và nhà Tiền Lê. Với tư duy địa - chính trị như vậy nên sự thiên vị của vua Hùng dành cho nhân vật Sơn Tinh khi ra đề thi cũng là điều dễ hiểu. Đương nhiên người Việt cổ không hoàn toàn quay lưng với biển: Thủy-Tinh-miền-biển vẫn được quyền ứng thí, vẫn có khả năng trở thành phương án được lựa chọn làm phò mã, tức trên danh nghĩa vẫn được bình đẳng về cơ hội với Sơn-Tinh-miền-núi.
Thậm chí đảo hoang ngoài khơi xa vẫn nằm trong tầm nhìn lẫn tầm với của vua Hùng, và qua truyện Sự tích quả dưa hấu có thể thấy nhà vua từng hạ lệnh đày Mai An Tiêm ra một hoang đảo - là nơi mà nói theo ngôn ngữ ngoại giao bây giờ là thuộc chủ quyền của nước Văn Lang trên biển. Cũng qua truyện Sự tích quả dưa hấu, có thể thấy tư duy trọng nông của người Việt cổ thể hiện trong chi tiết nghệ thuật Mai An Tiêm trồng dưa hấu trên đảo thay vì đánh bắt cá dưới biển để mưu sinh. Tuy nhiên cũng có thể tiếp cận chi tiết nghệ thuật này theo một cách nhìn khác: giữa không gian sống là biển cả mênh mông, Mai An Tiêm không thể không bị tác động và đã trở thành nhân vật đầu tiên của thế giới nghệ thuật truyện cổ dân gian Việt Nam có tư duy hướng biển: Mai An Tiêm chính là người có công đưa quả dưa hấu vào thị trường kinh tế biển.
Sự tích Trầu CauSự tích Táo quân là hai truyện đề cao quan niệm hôn nhân một vợ một chồng nhằm góp phần xác định mô hình gia đình làm giềng mối cho kỷ cương xã hội đương thời. Thật ra thì chưa thấy có truyện cổ dân gian nào không đề cao quan niệm hôn nhân một vợ một chồng, nhưng điểm độc đáo của Sự tích Trầu CauSự tích Táo quân là sự kết-nối-tay-ba-sau-cái-chết: ở Sự tích Trầu Cau, sau khi chết người em hóa thành hòn đá vôi, người anh hóa thành cây cau và người vợ hóa thành dây trầu hòa quyện cùng nhau trong miệng người ăn trầu; còn ở Sự tích Táo quân, sau khi chết người vợ, người chồng trước và người chồng sau đã trở thành ba vị thần táo ngồi bên nhau trong góc bếp mọi nhà.    
2. Lại cũng có nhiều truyện cổ dân gian Việt Nam chủ yếu phản ánh quá trình giữ nước như truyện kể về người anh hùng làng Gióng, hay truyện kể về thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thuỷ... Nếu như hình ảnh con rồng bay trên không lúc ban đêm và có khả năng phun lửa rất phổ biến trong nhiều truyện cổ dân gian của vương quốc Anh và các nước Bắc Âu thì lần đầu tiên và duy nhất trong truyện cổ dân gian Việt Nam xuất hiện con ngựa sắt có khả năng phun lửa của người anh hùng làng Gióng. Chi tiết nghệ thuật độc đáo này thể hiện quan niệm của người Việt về sự đồng hành giữa sức mạnh của lòng yêu nước với sức mạnh của vũ khí hiện đại, bởi làm thế nào người anh hùng làng Gióng có thể rượt đuổi giặc thù phương Bắc trên đồng đất quê hương bằng đôi chân trần trụi, cho dù đó là đôi chân to lớn của người khổng lồ? và làm thế nào có thể rượt đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nếu hỏa lực không đủ mạnh, nếu con ngựa sắt không đủ lửa để phun ra?
Cũng thể hiện quan niệm của người Việt về sự đồng hành giữa sức mạnh của lòng yêu nước với sức mạnh của vũ khí hiện đại - chiếc nỏ thần, nhưng truyện kể về thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thuỷ lại đi theo một hướng khác: tổng kết kinh nghiệm thất bại - chứ không phải kinh nghiệm chiến thắng - trong chiến tranh vệ quốc. Kinh nghiệm thất bại như một thông điệp để đời của thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thuỷ là đừng bao giờ mang “Trái tim nhầm chỗ để trên đầu - Nỏ thần vô ý trao tay giặc” (thơ Tố Hữu), bởi với một kẻ thù xâm lược thâm độc và xảo quyệt luôn nói một đường làm một nẻo như vậy mà mất cảnh giác, mà không bảo vệ được bí mật quốc gia, mà không giữ kín được bí mật quân sự thì cũng đồng nghĩa với việc sớm đưa đất nước rơi vào tay ngoại bang, sớm đưa dân tộc vào cảnh đời nô lệ. 
3. Nhưng phân tích kỹ nhiều truyện cổ dân gian Việt Nam thuộc đề tài này, có thể thấy có sự đan xen giữa hai quá trình dựng nước và giữ nước, trong dựng nước có giữ nước và trong giữ nước có dựng nước. Thánh Gióng là chuyện đánh giặc giữ nước, mà cũng là chuyện dùng người tài, chuyện nhân cách (cách Gióng vào cõi nhân gian đã phi thường, cách Gióng rời cõi nhân gian càng phi thường hơn). Sơn Tinh - Thuỷ Tinh là chuyện tình tay ba, chuyện ông vua thiên vị, mà cũng là chuyện đắp đê chống lụt - ở đây hiểu thiên tai là một loại kẻ thù cần phải chống như địch họa (có khi hai loại kẻ thù này đến cùng lúc: “Lụt bắc lụt nam máu đầm biên giới - Tay chống trời tay giữ nước căng gân” - thơ Tố Hữu). Mỵ Châu - Trọng Thủy là chuyện xây thành và chế tạo vũ khí hiện đại, là chuyện cảnh giác với hoạt động gián điệp, mà cũng là chuyện hôn nhân có yếu tố nước ngoài và tình yêu không biên giới…
Truyện Sự tích Hồ Gươm thể hiện mối quan hệ giữa giữ nước và dựng nước theo một nhãn quan khác. Truyện kể rằng đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần để giết giặc và trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành khắp các trận địa làm cho quân Minh kinh hồn bạt vía, phải cam chịu thất bại mà rút khỏi nước ta. Như vậy Sự tích Hồ Gươm cũng nằm trong mạch truyện cổ dân gian thể hiện quan niệm của người Việt về sự đồng hành giữa sức mạnh của lòng yêu nước với sức mạnh của vũ khí hiện đại. Nhưng Sự tích Hồ Gươm còn đi xa hơn truyện kể về người anh hùng làng Gióng và truyện kể về thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thuỷ thông qua chi tiết nghệ thuật rùa vàng đòi Lê Lợi trả lại gươm thần cho Long Vương ngay giữa hồ Tả Vọng - nay đổi tên là Hồ Gươm hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm. Chi tiết nghệ thuật trả lại gươm thần sau khi chiến thắng kẻ thù xâm lược chứng tỏ người Việt thiện chiến chứ không hiếu chiến đồng thời chứng tỏ cái cần hơn trong xây dựng hòa bình không phải là vũ khí hiện đại mà chính là lòng dân. Thì chẳng phải quân Minh xâm lược nước ta hàng chục năm trời là do trong thời bình, nhà Hồ đã không xây dựng được thế trận lòng dân - một yếu tố sống còn như Hồ Nguyên Trừng con trai Hồ Quý Ly từng lo ngại: “Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi” đó sao? Tất nhiên trả lại gươm thần không có nghĩa là thời bình không đòi hỏi phải mài sắc ý thức cảnh giác, không đòi hỏi phải thường xuyên luyện tập thập bát ban võ nghệ, và từ sau ngày Lê Lợi hoàn kiếm năm xưa, người Việt dẫu rất mong muốn được sống hòa hiếu bình yên, cũng nhiều lần buộc phải mượn lại gươm thần và tuốt gươm ra khỏi vỏ…  

Trò chuyện quanh bộ bài chòi


Trương Đình Quang
 
 
Trò chuyện
quanh bộ bài chòi
 
 
   Bạch huê và nhứt nọc
   Trong dân gian, trò chơi bài chòi dùng bài tới [[1]], hay bài trùng [[2]]. Bộ bài gồm có 30 con bài nhiều loại, mỗi loại có 3 con trùng nhau. Tên và mặt mũi con bài trùng khá lạ. Có những tên như Nhứt nọc (Nọc thược), Nhì nghèo, Ông ầm, Tứ cẳng, Tám miểng, Sáu ghe,v.v...
   Con baigf được làm bằng hồ giấy pha vôi, chiều dài độ 6,7cm, chiều rộng độ 1,5cm. Mặt con bài khong ghi chữ như con tổ tôm, mà chỉ là những hình vẽ rất thô sơ, như lối văn tự tượng hình. Ví dụ: con bài Tám miểng (miểng có lẽ thổ ngữ có nghĩa là mảnh), vẽ 8 mảnh đen, xếp thành 2 cối đối mặt, con bài Ông ầm vẽ 1 cái mặt vằn vện, như mặt quỷ ngay ở giữa,...Ngày nay, có chữ Việt ở đầu con bài: Sáu tiền, rún, xơ, đấu, v.v...
   Đáng chú ý hơn cả là trong bộ, có 2 con bài Bạch huê (còn có tên là Liễu) và Nhứt nọc (còn có tên là Họ trò, Nhứt trò, Nọc thược).
   Con bài Bạch huê ở câu hô tuy dân dã, nhưng cũng pha chút văn chương bác học:
                        Hoa phi đào, phi cúc
                        Sắc phi lục, phi hồng
                        Trơ như đá, vững như đồng
                        Ai xô không nagx, gió lừng không xao
                        Mỉa mai cụm liễu, cửa đào
                        Ong vô muốn đậu, bướm vào muốn bu
                        Bốn mùa, xuân hạ đông thu
                        Khi búp, khji nở, khi xù, khi trương
                        Chúa xuân ngó thấy mỉm cười
                        Sắc hay vươn vấn mấy người tài danh
                        Có bông, có cuóng, không vành
                        Ở trong có nụ, bốn cành có tua
                        Nhà dân cho chí nhà vua
                        Ai ai có của, cũng mua để dành
                        Tử tôn do thử nhị sanh
                        Bạch huê mỹ hiệu, xin phành ra coi.
Có lúc thì liều lĩnh, trắng trợn:
                        Xu xoa chị bán mấy đồng
                        Chị ngồi chị để lộ cái mồng của chị ra
                        Con quạ hắn tưởng bánh đa
                        Hắn đớp một miếng, chị la hướ trời !
Anh hiệu kết thúc câu hô con bài: lá...l...
Câu hô con bài Nhứt nọc đứng đắn:
                        Đi đâu mang sách (trắp) đi hoài
                        Cử nhân chẳng thấy (mà) tú tài cũng không.
                                                                                    (Nhứt trò)
Có lúc lăng nhăng, ba xạo:
                        Con cu ăn lúa, ăn mè
                        Ăn chi của chị (mà) chị đè cu tôi.
                                                                                    (Nọc thược)
Có lúc, đố tục giảng thanh, xô bồ, cười cợt:
                        Năng cường, năng nhược
                        Năng khuất, năng sanh
                        Nó (là) vốn thiệt cục gân
                        Ngồi gần con gái, trân trân chẳng xìu.
                                                                                    (Nọc đượng)
   Anh hiệu kết thúc câu hô con bài: con...c...
   Có người nghiên cứu nghĩ đến yoni và linga, và (có thể là), một kiểu bài của dân tộc Chăm, ghi bằng văn tự hình tượng hay lối vẽ ước lệ của họ, và phản ánh tục thờ sinh thực khí.
 
   Mối quan hệ giữa bài tổ tôm với bài chòi (Từ đây, tôi dùng tên bài chòi thay cho các tên bài tới, bài trùng) [[3]]
   Có người nhận xét rằng, bộ bài chỏi bắt nguồn từ bài ttổ tôm. Căn cứ của ý nghĩ ấy, là hiện tượng các con bài trong bộ bài chòi, cũng có đủ từ 1 đến 9, có những tên gọi nhứt, nhì, tam, tứ v.v,..., và có thể xếp theo như các pho văn, vạn, sách của tổ tôm, mà có thể là chứng minh cho sự “nho hóa” bài chòi, có thể do tình hình nho hóa của ngữ vựng và dụng tâm tham khảo tổ tôm, để chỉnh lý bài chòi của các nhà nho bình dân chăng?
   Thử so sánh pho sách của tổ tôm và pho mà nhiều người cho là tương ứng bài chòi. Tổ tôm có Nhất sách, Nhị sách, Tam sách, Tứ sách, Ngũ sách, Lục sách, Thất sách, Bát sách, Cửu sách. Bài chòi có Nhứt nọc, Nhì nghèo, Ba gà, Tứ tượng, Ngũ nhặt, Sáu bường, Bảy thưa, Tám nức, Cửu điều.
   Thật khó mà nghĩ rằng, những con bài Nhứt nọc, Nhì nghèo, Ba gà v.v...lộn xộn đủ tứ ấy lại có thể là sự “dân gian hóa” những con “sách” rất chặt chẽ trên kia. Ở pho văn, pho vạn, cũng có tình trạng như thế. Do nguyên nhân gì, mà con “chi chi” của tổ tôm lại biến thành con “bạch huê” của bài chòi. Như thế, có lẽ, ta nên nghĩ đến một quá trình nho hóa của bài chòi hơn là quá trình dân gian hóa tổ tôm. Sự biến chuyển của bài chòi đến gần tổ tôm, cũng có thể do sự giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Chiêm Thành từ xa xưa. Có hiện tượng gọi một số con bài tổ tôm theo tên bài chòi như Cửu vạn  Chùa, Bát vạnBát bồng v.v...; nhưng tuyệt nhiên, không hề có hiện tượng gọi những con bài chòi bằng tên bài tổ tôm. Và, cách xếp bài chòi theo 3 hàng văn, vạn, sách như tổ tôm có ở Quảng Nam lại rất ít thấy ở Bình Định. Và, cách xếp ấy, cũng chỉ xảy ra trong cách chơi của tầng lớp trên, chứ không thấy trong dân gian. Điều ấy cũng góp thêm chứng minh cho luận điểm “bài chòi bị nho hóa” và góp phần “xét lại” luận điểm “bài tổ tôm được dân gian hóa”.


[1] Trò chơi bài chòi, Huỳnh Đình Kết, Văn hóa dân gian Thừa Thiên – Huế, tháng 11/1995, tr. 91.
[2] Hội bài chòi ở Quảng Bình, Nguyễn Tú, Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 1/2006, Hội VNDGVN, Tr.120. Lịch sử ca kịch và âm nhạc bài chòi, Hoàng Lê, Sở VHTT tỉnh Bình Định.
[3] Vào dịp trao đổi ý kiến về bài chòi với Mịch Quang, nhà nghiên cứu văn hóa và kịch hát dân tộc.

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

Cái mâm trong văn hóa ẩm thực Quảng Nam, Đà Nẵng

Phan Thị Miều


Trên khắp vùng đất Quảng Nam, Đà Nẵng và hầu như trong cả nước Việt Nam ta, nhân dân có thói quen dùng cái mâm để bày các đĩa thức ăn.
   Ngày Tết hoặc kỵ giỗ, nhiều món ngon được nấu nướng công phu, múc vào dĩa, bát xếp trên mâm gội là mâm cỗ.
   Trong đám cưới, đám hỏi, buồng cau tươi say trái hoặc những miếng cau khô dính hột, những liển trầu được xếp khéo léo gọn gàng, đẹp mắt trên mâm, đặt lên bàn cùng với các lễ vật khác để trình cho hai họ, được gọi là mâm trầu mâm cau.
   Mâm có nhiều loại: loại bằng đồng, bằng thau, bằng nhôm, bằng gỗ.
   Ngày xưa, mâm cơm của nhà giàu hay của quan chức là mâm thau, mâm đồng vàng chóe. Mâm thau, mâm đồng cũng có loại trơn, loại chạm hoa văn, loại có 3 chân, loại không chân. Các nhà dân bình thường, hầu hết dùng mâm gỗ. Mâm gỗ phần nhiều làm bằng gỗ mít, có tính bền, ít nứt nẻ. Một chiếc mâm trung bình có đường kính khoảng 40 phân, vành độ 3 phân. Mâm gỗ vừa rộng rãi, vừa chắc chắn, đựng được nhiều bát đĩa, cứng cáp khi di chuyển, mâm gỗ cũng có hai loại, loại gỗ mộc và loại gỗ sơn. Mâm gỗ sơn thường được sơn màu son, mâm son, đồng nghĩa với quý phái, sang trọng nên có câu:
                        Mâm son bát sứ đưa lên hầu bà
   Trong các gia đình quá nghèo ở nông thôn, chiếc mẹt tre được thay thế cho cái mâm trong mỗi bữa cơm. Chiếc mẹt hình tròn đan bằng tre, ngoài có vành được nức bằng mây chắc chắn, là vật dùng để phơi các loại nông sản số lượng ít như đậu, mè. Nẹt có nơi gọi là trẹt. Trên chiếc trẹt, chỉ có dĩa rau luộc, chén mắm để chấm và bát canh rau lỏng bỏng nước, họa hoằn mới có dĩa cá vụn kho khô.. Có nhà còn dùng cái sàn là vật dùng để sàn gạo, thay cho cái mâm. Sàng cũng bằng cái trẹt nhưng đan lồng mốt nan sưa để hạt gạo, hạt thóc lọt xuống nia.
   Câu ca dao:
                        Tay bưng dĩa muối sàn rau
                        Đặt lên quảy mẹ, ruột đau như giần.
   Nói lên hoàn cảnh người con hiếu thỏa nhưng quá nghèo, ngày giỗ mẹ không sắm được gì mà chỉ có rau luộc và muối, lại không có cả bát, dĩa, mâm, phải dùng cái sàng mà đựng rau.
   Trong dân gian, còn có rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao nói về cái mâm trong ẩm thực. Như câu: Đũa mốc mà chòi mâm son để nói người ở địa vị thấp kém trong xã hội mà không tự biết mình, muốn giao du với người ở địa vị cao hơn, hoặc giàu có hơn mình.
   Câu: Một mâm cẩn sui không bằng mui cá chuồn để ca ngợi cái ngon của mui cá chuồn, nhưng trên thực tế sự so sánh này cũng chưa chính xác.
   Câu hát :     
Con quạ nó đứng bên sông
                        Nó kêu bớ mẹ lấy chồng bỏ con
                        Một mâm ba bốn dĩa ngon
                        Dượng ghẻ ních hết để con nhịn thèm.
   Đó là tâm trạng của một đứa trẻ mồ côi cha, lo rằng mẹ tái giá, gặp phải ông dượng ghẻ ích kỷ, chỉ biết ăn ngon mặc đẹp phần mình, để đứa trẻ chịu thiệt thòi.
   Câu ca dao:
Đôi ta làm bạn thong dong
                        Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
                        Bởi chưng cha mẹ nói ngang
                        Cho nên đũa ngọc mâm vàng cách xa.
   Đũa ngọc, mâm vàng nói lên sự xứng đôi vừa lứa của đôi bạn trẻ, nhưng do những ý kiến không thống nhất của hai bên cha mẹ nên duyên nợ không thành. Câu hát ngụ ý trách cha mẹ.
   Một câu khác:
Ai về nhắn với bà gia
                        Dọn đàng, quét ngõ tháng ba dâu về
                        Dâu về dâu chẳng về không
                        Ngựa ô đi trước ngựa hồng theo sau
                        Mâm trầu lại có mâm cau
                        Có con nho nhỏ theo sau mà hầu.
   Câu này mô tả một đám cưới sang trọng, cô dâu được rước về nhà chồng bằng ngựa ô, ngựa hồng với mâm trầu cau làm lễ vật, và cả người hầu. Nhưng những ý trong câu này nói lên sự kênh kiệu, cao ngạo của cô dâu như “nhắn với bà gia”,”dọn đàng quét ngõ”, tỏ ra cô dâu này không lễ độ với mẹ chồng, nhắn bà phải dọn đàng quét ngõ để đón mình.
   Câu ca dao:
                        Trời mưa cho lúa chín vàng
                        Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm
                        Đem thì bát sứ mâm son
                        Chớ đem mâm gỗ anh hờn không ăn.
   Nhân vật “anh” trong câu ca dao này là nông dân lao động một nắng hai sương, lại yêu cầu “em” phải đem cơm trong mâm son bát sứ là một đòi hỏi quá đáng.
   Một cô gái muốn khoe với bạn trai rằng nhà mình cũng giàu có, không thua chi nhà chàng bằng mấy câu:
                        …Bữa ăn chả phụng nêm công
                        Gạo lúa nhe giã trắng nấu nồi đồng vỏ cua
                        Mâm thau bát bịt thêu thùa
                        Đũa mun bịt bạc không thua chi nhà chàng !
   Dân tộc Việt nam ta nói chung và Quảng Nam, Đà Nẵng nói riêng từ bao đời nay đã dùng cái mâm để đựng thức ăn trong bữa cơm thường ngày cũng như các bữa kỵ giỗ vừa trang trọng, vừa hợp vệ sinh. Có lẽ đây cũng là một nét đẹp trong văn hóa ẩm thực cần giữ gìn, lưu lại muôn đời sau. (10-2012).