Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Giao thoa văn hóa Việt - Chăm nhìn từ đồng dao


Võ  Văn  Hòe

Giao thoa văn hóa Việt - Chăm
nhìn từ đồng dao (同谣)


Đồng dao theo Dương Quảng Hàm trong sách "Việt Nam văn học sử yếu", định nghĩa: "đồng dao là các bài hát của trẻ con" (đồng dao). Trong Tạp chí Văn học số 4/1974, GS.TSKH. Tô Ngọc Thanh trong bài "Đồng dao với cuộc sống dân tộc Thái ở Tây Bắc", đã viết rằng, "Trong môi trường sinh hoạt mỗi bài đồng dao là một thể kết hợp văn hóa - văn nghệ dân gian. Thông thường nó gồm ba yếu tố: trò chơi, lời ca văn vẻ, làn điệu âm nhạc. Cũng có một số bài có hai yếu tố, và lời ca là âm nhạc. Mỗi yếu tố hợp thành đã đóng vai trò của một thành viên không thể cắt rời của thể kết hợp đó". [[1]]. Trong sách "Văn học Chăm" tác giả Inrasara cho rằng: "Đồng dao Chăm là những bài thơ có vần điệu được trẻ con Chăm hát truyền khẩu cho nhau qua nhiều thế hệ". [[2]] Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên định nghĩa đồng dao: "là lời hát dân gian truyền miệng của trẻ em, thường kèm một trò chơi nhất định". [[3]]
Hiện tại xét về mặt đồng đại, đồng dao không còn được các em  tập trung tổ chức hát, chơi trò chơi đi kèm, thường xuyên tại các trường học, thôn làng, nên việc sưu tầm ghi chép lại thể loại văn học này trên một địa bàn cư trú cụ thể gặp khó khăn không ít. Tuy nhiên, thảng vẫn còn nhưng các em chỉ đọc đồng dao để nghe với nhau, hoặc được tổ chức dàn dựng đưa lên sân khấu hoặc truyền hình, hoặc tổ chức trong các trường Tiểu học với chủ đề chung "Trường học thân thiện", theo đó đồng dao mất tính xác thực như nó đã vốn có cả về từ ngữ lẫn trò chơi và nhịp điệu đi kèm.
Trong bài viết này, chúng tôi khảo sát đồng dao người Việt, người Việt miền Trung và người Chăm để tìm nét tương đồng hoặc có giao thoa nhau trong tiến trình giao lưu, tiếp biến văn hóa dân gian khu vực miền Trung Việt Nam. Thực hiện lát cắt trên quan điểm đồng đại để tìm hiểu trong một giai đoạn diễn biến từ khi người Việt đặt chân vào phương nam, muộn nhất từ năm 1471 đến đầu thế kỷ XX làm đối tượng cho nghiên cứu, đối sánh để tìm hiểu sự tương đồng, giao thoa trong đồng dao của trẻ em người Việt - Chăm.
Qua khảo sát, xem xét 20 đơn vị đồng dao trẻ em người Chăm trong sách: "Văn học Chăm" của tác giả Inrasara, đối chiếu với 16 đơn vị đồng dao sách "Văn hóa dân gian Hòa Vang" [[4]], "Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng" (tập 1/1983), một số đơn vị  đồng dao trẻ em ở Khánh Hòa (mạng internet), và 713 đơn vị đồng dao trong sách “Đồng dao người Việt” [[5]] cho thấy các bài đồng dao trẻ em người Việt có thể loại kết hợp mỗi câu 2 tiếng, 3, 4, 5, 6, 7 và có câu lục bát 6/8. Qua đối chiếu với ca dao trẻ em Chăm rất ít bài đồng dao có câu 3, 4 tiếng (có 2/20), ít tìm thấy thể đồng dao 2 tiếng, 3, 4, 5, 6, 7 tiếng mà tập trung phần nhiều là các bài đồng dao hỗn hợp, có bài câu 3 tiếng lẫn với câu 4, 5 tiếng, do đó bài đồng dao của trẻ em Chăm câu có số tiếng không bằng nhau. Ngược lại trong đồng dao trẻ em người Việt miền Trung cơ cấu câu 2 tiếng đến 3, 4, 5, 6, 7, và câu lục bát 6/8 vẫn có và chiếm tỉ lệ lớn. Tuy nhiên vẫn có trường hợp đan xen câu 3 tiếng đến 4 tiếng, có khi 2 tiếng trong một bài như đồng dao trẻ em Chăm. Ví dụ bài đồng dao sau đây của trẻ em người Việt, mỗi câu 3 tiếng, nhưng vẫn phá vở tiết tấu để thể hiện thanh điệu, ngữ điệu và nhịp trong biểu hiện gắn với trò chơi cùng với lời càng lúc càng nhanh dần:
-Đúc cây dừa
                        Chừa cây nạng
                        Cây lồng ống
                        Cây bí đao
                        Cây nào cao
                        Cây nào thấp
                        Cây nào rập
                        Cây nào rà
                        Mồng tơi, bí đỏ
                        Quan văn, quan võ
                        Ăn cắp trứng gà
                        Bọ xa, bọ xít
                        Bò ra tay này
                        Mà gầy tay nọ
                        Mà bỏ tay ni !
bài đồng dao trẻ em Chăm thể 3 tiếng:
                        -Kwik kwik
                        Kwik dik cabbak
                        kơu lauk gilaung
                        Kwik hu kaung
                        Kơu hu krah
                        Kwik hu brah
                        Kơu hu jien...
                        Kwik Kwik
                        Kwik leo cổng
                        Tao chui rào
                        Kwik có còng
                        Tao có nhẫn
                        Kwik có gạo
                        Tao có tiền...
Bài đồng dao trẻ em Việt thể 4 tiếng:
-Ru ru kiến kiến
Con kiến ở nhà
Con gà bươi bếp
Con rệp thắp hương
Chàn hương bới tóc
Cá nóc cầm chèo
Co mèo tát nước
Con vạc đi ăn
Mụ vằn đi chợ
Mua mật mua mỡ
Về cho kiến ăn
Làm nhà năm căn
Cho con kiến ở
Kiến không thèm ở
Kiến bỏ kiến đi.
            Bài đồng dao của người Chăm thể 4 tiếng/câu:
                        -Bluk bluk blu blu
                        Gà chú một đôi
                        Bồ câu một giỏ
                        Phát rừng làm rẫy
                        Rẫy chú trồng đậu
                        Đậu chú xanh xanh
                        Cà chú lớp lớp
                        Cơm nước no bụng.
                        (Bluk bluk blu blu
                        Mưnuk cei sa yơu
                        Katrơu cei sa habai
                        Jah glai ngap puh
                        Puh cei pala ritak
                        Ritak cei vei vei
                        Traung cei dak dak
                        Cei hwak trei tung).
            Bài sau đây của trẻ em người Chăm là tổng hợp câu có số tiếng không bằng nhau:
                        Japlwai lội nước [[6]]
                        Con chồn lội bẫy
                        Nắm lấy cẳng
                        Quảng vào cột
                        Ông Dơm Sơng [7]
                        Đứng trước mặt mẹ Japlwai.
(Japlwai lwai ia
                        Mưja hwa gaiy
                        Pan di laiy
                        Cabauh di gơng
                        Ong Dơm Sơng
                        Ânk maik Japlwai.)
            Bài đồng dao trẻ em Việt miền Trung có số tiếng 4, 5, 7 đan xen nhau, tương đồng với đồng dao trẻ em Chăm:
-Đàn dê lên rừng
Thấy hang hổ xám
Thì dừng lại ngay
Hổ xám có nhà không?
Hổ xám còn rình mồi!
Hổ xám rình mồi chi?
Rình mồi bắt đàn dê đầu đàn!
Dê đầu đàn húc lại?
Hổ xám rình bắt dê con!
Dê con chạy nhanh
Cả đàn che chở [[8]].
Theo đó, cho thấy rằng thể đồng dao trẻ em Chăm là thể loại hỗn hợp câu 2, 3, 4, đến 5 tiếng đan xen nhau trong một bài đồng dao, do đó phối thanh không đồng đều và đôi khi không đối thanh, mà thường thể hiện nội dung là chủ yếu của bài đồng dao. Điều này thấy có sự giống nhau không điển hình giữa đồng dao trẻ em người Việt miền Trung và đồng dao trẻ em Chăm.
            Có thể nhận thấy trong đồng dao trẻ em Chăm và trẻ em Việt miền Trung vẫn có sự tương đồng nhau trong thể 4 tiếng, có đan xen 3 tiếng/câu, khi ấy vấn đề nhịp điệu vẫn được xem là có sự tương đồng nhau và cả vần lưng cũng được thể hiện. Đồng dao trẻ em Việt có nhịp 2/2, 2/4, 3/3,… thì đồng dao trẻ em Chăm vẫn có các loại nhịp như vậy.
            Ví dụ: nhịp 2/3, 3/3 đan xen nhau:
                        - Ppok jaung / Đaung đak
                        Cadak mưhlei
                        Lisei hwak / Ia mưhum
                        Tum rideh / Tâtih ai bilan
Pôk jong / cong thẳng
                        Bắn bông / cơm ăn ước uống
                        Tum xe tròn / Hệt quầng trăng
                        Cá dưới sông / Cọp trong rừng …
           
                        Hoặc nhịp 3/3:

                        - Japlwai lwai ia / Mựa hwa gaiy
                        Pan di laiy / Cabauh di gơng
                        Ong Dơm Xơng / Anak maik Japlwai
                        Japlôi lội nước / Chồn kéo ghe
                        Nắm lấy cẳng / Quảng vào cột
                        Ông Dơm Sơng / Trước mặt mẹ Japlôi.
                        (…)
            Một số bài đồng dao trẻ em Chăm và trẻ em Việt miền Trung tuy về thể đồng dao có khác nhau, nội dung thể hiện khác nhau trong sử dụng lời ăn tiếng nói, nhưng tựu trung phản ảnh các sinh hoạt thường ngày của trẻ em nên vẫn có sự tương đồng nhau trong cách thể hiện trò chơi, như các sự vật và hiện tượng chung quanh các em trong nhà, xóm, làng được phản ảnh, hoặc đọc lời đồng dao cho nhau nghe trong những giờ vui chơi.
Ví dụ bài đồng dao sau đây của trẻ em Chăm có cách thể hiện đối đáp giống với trẻ em Việt như bài Rồng rắn lên cây (chỉ giống hình thức đối đáp nhau mà thôi, còn nội dung phản ánh lại khác):
            Cò ơi sao mày ốm nhom? Do tôm không nổi
            Tôm ơi sao mày không nổi? Bởi cỏ quá nhiều
            Cỏ ơi sao lại mọc nhiều? Trâu chẳng chịu ăn
            Trâu ơi sao chẳng chịu ăn? Thằng cọc không mở
            Cọc ơi sao mày không mở? Thằng Sứt không chăn
            Sứt ơi sao mày không chăn? Bởi đau bụng
            Bụng ơi sao lại kêu đau? Do cơm sống
            Cơm ơi sao mi lại sống? Bởi củi mục
            Củi ơi sao mi ướt mục? Mưa phùn dầm dề
             Mưa nhé sao mãi dầm dề? Lũ nhái kêu la
            Nhái ơi sao bay kêu la? Bởi trời sinh ra ta đã vậy.
            (Akauk hagait hư lavang? Hadang o dong
            Hadang hagait o dong? Harơk ralo
            Harơk hagait hư ralo? Kbaw o talaih
            Kabaw hagait o bbơng? Jamơng o talaih
            Jamơng hagait Jabbaih o glơng
            Jabbaih hagait o glơng? Tian pađik
            Tian hagait hư paik? Lisei mưtah
            Lisei hâgit hư mưtah? Nhjuh bauk
            Nhjuh hagait hư bauk? Hận tâthiy
            Hận hagait hư tâthiy? Kiep cadu
            Kiep hagait hư cadu? Ywa lingik padauk kơu yơu nan.)
            Bài đồng dao sau đây của trẻ em Việt miền Trung có hình thức trò chơi hỏi đáp tương đồng nhau:
-Rồng rắn lên cây
Cây có bóng mát
Có bà chủ nhà không?
Không!
Có bà chủ nhà không?
Không!
Có bà chủ nhà không?
Có!
Cho xin tí lửa?
Lửa tắt!
Cho xin cái quạt?
Quạt chưa mua!
Cho xin cái đảy?
Cái đảy đựng trầu!
Cho xin cái đầu?
Đầu cứng!
Cho xin khúc giữa?
Giữa xương!
Cho xin cái đuôi?
Đuôi mềm! Bắt được cái đuôi thì ăn! [[9]]
            Trong điều kiện sưu tầm số lượng đồng dao trẻ em người Việt miền Trung và trẻ em Chăm còn lại không nhiều, chúng tôi khảo sát 20 đơn vị đồng dao như vậy chưa nói lên được sự giao thoa, tiếp biến lẫn nhau, do đó vẫn chưa phong phú trong cách thể hiện tìm ra nét tương đồng mang tính phổ biến được. Trong đồng dao trẻ em Việt và trẻ em Chăm môi trường tự nhiên, các loài thú luôn là chủ đề phản ảnh, ngợi khen hoặc phê phán, bởi đây là môi trường mà các em thường xuyên tiếp xúc khi còn nhỏ. Chính vì vậy trong đồng dao của các em thường phản ảnh thiên nhiên, con người ở mức độ tiếp cận nhẹ nhàng, chưa sâu sắc, chưa mang tính triết lý hay tư duy lô gích về sự vật và hiện tượng thiên nhiên, con người một cách đầy đủ các thuộc tính vốn có. Tuy nhiên, qua đây cho thấy có yếu tố tương đồng dễ nhìn thấy trong đồng dao trẻ em người Việt miền Trung và trẻ em người Chăm.
            Về vần điệu có thể nhìn thấy các em bỏ vần lưng, cho dễ đọc, dễ nhớ. Ví dụ bài đồng dao trẻ em Chăm:
            -(Akauk hagait hư lavang? Hadang o dong
            Hadang hagait o dong? Harơk ralo
            Harơk hagait hư ralo? Kbaw o talaih)
            Cò ơi sao mày ốm nhom? Do tôm không nổi
            Tôm ơi sao mày không nổi? Bởi cỏ quá nhiều
            Cỏ ơi sao lại mọc nhiều? Trâu chẳng chịu ăn
            Trâu ơi sao chẳng chịu ăn? Thằng cọc không mở
            (...)

            Hoặc sự tương đồng về vần có thể gặp trong một số bài gieo vần lưng. Bài đồng dao trẻ em Chăm:
Mưnuk cei yơu
Katrơu  cei sa bai
Jah glai pala ritak
Ritak cei veivei.
Bài đồng dao trẻ em Việt:
-Trời mưa lâm râm
Cây trâm có trái
Con  gái có duyên
Đồng tiền có l
Bán t thiệt ngon
Bán bèo thiệt béo
Cái kéo thợ may
Cái cày làm ruộng
Cái xuổng đắp b
Cái l thả cá
Cái ná bắn chim
Cây kim may áo
Cái giáo đi săn
Cái khăn bịt đầu
Cái cầu đi ch
Có v đàn ông
Có chồng con gái
Có tráiu
Có khu bà già [[10]]
Có cha con nít.
            Kiểu vần này tạo thành nhịp đôi cho cả bài đồng dao, tương thích với trò chơi có bước đi của trẻ em, hoặc có thể huơ tay lên làm dấu hiệu biểu tượng, vừa hát đồng dao vừa nhảy, vỗ tay làm cho cuộc chơi phối hợp bài bản, trò diễn, nhịp điệu thể hiện được chức năng của đồng dao thêm sinh động, vui tươi theo kiểu vần chân.
Cim cak cak
Padai bak jak
Lac bak lii
Hận klơm ni.
            Đồng dao trẻ em người Việt miền Trung và người Chăm thường thể hiện chức năng giúp các em nhận biết sự vật và hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, xã hội và cuộc sống chung quanh. Nội dung giúp nhận biết thường đơn giản về một sự vật hoặc hiện tượng nào đó, mối quan hệ với bạn bè, anh chị em trong gia đình và đôi khi quan hệ với xã hội nhưng vẫn với tinh thần nhẹ nhàng, đơn giản phổ biến. Đây là nét chung thường gặp trong đồng dao trẻ em người Việt - Chăm. Thí dụ nhận biết:
-Trời mưa lâm râm
Cây trâm có trái
Con  gái có duyên
Đồng tiền có l
Bán t thiệt ngon
Bán bèo thiệt béo
Cái kéo thợ may
Cái cày làm ruộng
Cái xuổng đắp b
Cái l thả cá
Cái ná bắn chim (...)
hoặc bài đồng dao trẻ em Chăm, thể hiện sự nhận biết:
                        -Cim cauh ritaung
                        Cim jhaung ikan
                        Cim rwak tian
                        Cim jauh angwa
                        Cang ai ka
                        Tamư sang swowr
                        Đa bhiw savah
                        Mưk ba pơr
                        Ngauk hala padai
                        Cim nau mai
                        Cim vaiy cabbwơc
                        Jalan ia đwơc
                        (...)
                        Chim bói cá
                        Ăn cá lòng tong
                        Chim đi sông
                        Chim duỗi cẳng
                        Vô nhà táng [[11]]
                        Rời tổ lìa cành
                        Nhớ chờ anh
                        E lũ ó
                        Thộp cổ mang đi
                        Trên cánh đồng
                        Chim qua lại
                        Méo mỏ chim
                        (...)

                        - Công bằng làng Chung Mỹ
                        Rành lệ làng Bàu Trúc
                        Hữu Đức hay thơ văn
                        Khó khăn làng Vụ Bổn
                        Chộn rộn xứ Văn Lâm
                        Ngang tàng làng Phất Thế
                        Khốn khó vùng Labơk
                        Vô lo dân Hiếu Thiện
                        Lắm chuyện người Nghĩa Lập
                        Đỗ dồn dập về Thành Tín
                        Thâu gọn ở Caklaing.[[12]]

            Trên, chính là tạo diều kiện cho trẻ em nhận biết những đặc điểm tự nhiên, loài vật, xã hội con người và nhận biết các phong tục, tập quán liên quan đến đời sống người dân. VVH./.


[1] Đồng dao với cuộc sống dân tộc Thái ở Tây Bắc, Tô Ngọc Thanh, Tạp chí Văn học, số 4/1974.
[2] Văn học Chăm, Inrasara, Nxb. Văn hóa dân tộc, 12/2004.
[3] Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), Nxb Đà Nẵng & Trung tâm từ điển học, in lần thứ 12,  tr. 342, 2006.
[4] Văn hóa dân gian Hòa Vang, Hội n nghệ dân gian Việt Nam, Võ Văn Hòe, Nxb. Dân Trí, 2012.
[5] Đồng dao người Việt (sưu tầm, tuyển chọn, bình giải), Hội n nghệ dân gian Việt Nam, Triều Nguyên, Nxb.Lao Động, 2011.
[6] Jăpwai: tên riêng, Ja được đặt trước tên con trai cũng như Mư được đặt trước tên con gái. Dẫn Theo Inrasara trong Văn học Chăm.
[7] Dơm Sơng: tên nhân vật trong truyền thuyết Chăm, như Đam San của đồng bào Tây nguyên. Dẫn Theo Inrasara trong Văn học Chăm, Nxb. VHDT. 12/2004.
[8] Đồng dao được đọc cùng với trò chơi Đàn dê lên rừng.
[9] Đồng dao được chuyển thành trò chơi Rồng rắn lên cây.
[10] Khu: (phương ngữ xứ Quảng)  là cái đít.
[11] sang swơc: nhà táng đem đốt với thi hài trong ngày đám tang của người Chăm Balamôn.
[12] Là  làng Mỹ Nghiệp.

Giao thoa văn hóa Việt - Chăm nhìn từ ca dao


Võ  Văn  Hòe

Giao thoa văn hóa Việt - Chăm
nhìn từ ca dao


            Theo Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu”, định nghĩa: ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình, phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa.
            Ca dao, theo “Từ điền Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ do Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa ca dao là: 1. Thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định, 2. Thể loại văn vần, thường làm theo thể lục bát, có hình thức giống như ca dao cổ truyền [[1]]

            Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” [[2]], cho rằng ca dao còn gọi là phong dao. Ca là bài hát có điệu khúc, dao là bài hát không có điệu khúc.
            Trong tác phẩm “Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố Chăm”, tác giả Inrasara khảo luận về ca dao người Chăm, không đưa ra định nghĩa về ca dao người Chăm mà giải thích thuật ngữ ca dao: “Minh định ngữ nghĩa của thuật ngữ văn học Chăm và đối chiếu với thuật ngữ tiếng Việt là một điều khó khăn nhưng cần thiết. Khó khăn vì đây là một việc làm hoàn toàn mới mẻ trong khi tư liệu công cụ lại thiếu thốn. Cần thiết vì chẳng những nó giúp cho người đọc có căn bản tiếng phổ thông tìm được từ tiếng Chăm tương ứng mà còn giúp chúng ta một số tiêu chí để phân định các chủng loại văn học Chăm nói chung, và văn học dân gian Chăm nói riêng”. [[3]] Tuy nhiên, sau đó ở phần trình bày về ca dao, tác giả Inrasara phát biểu, rằng: “Nội dung thế sự trong ca dao Chăm bao gồm những nhận định về sinh hoạt thường ngày, về cảnh trí thiên nhiên và về cuộc sống nói chung. Nhiều câu ca dao Chăm còn nói lên được những tình cảm quan trọng giữa người với người” (in nghiêng do V.V.H. nhấn mạnh). Theo đó, ta có thể thấy sinh hoạt thường ngày chính là phong tục, tập quán, là thói quen thường ngày của con người trong sinh hoạt gia đình, làng xóm, xã hội, còn tình cảm trong quan hệ giữa người với người chính là tính tình của người bình dân. Theo quan niệm đó, xét ra ca dao người Việt và người Chăm có sự giao thoa tương đồng, tiếp biến nhau trong quá trình giao lưu, cho - nhận và phát triển.
            Từ những nhận định trên, chúng tôi khảo sát 42 đơn vị ca dao trong tác phẩm “Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố” của tác giả Inrasara (Sđd) và 10 câu ca dao Chăm trong tác phẩm “Nếp sống cổ truyền người Chăm, huyện Vân Canh tỉnh Bình Định” của tác giả Nguyễn Xuân Nhân, Đoàn Văn Téo [[4]], đối chiếu với 2.763 đơn vị ca dao trong tác phẩm “Ca dao, dân ca đất Quảng” [[5]], 80 đơn vị ca dao người Việt miền Trung về chiếc nón trong tác phẩm “Một số nghề, làng nghề truyền thống và văn hóa ẩm thực vùng đất Khánh Hòa”[[6]], có thể nói rằng về thể ca dao lục bát của người Việt có ảnh hưởng, tiếp biến sang thơ lục bát, ca dao, trường ca/ariya người Chăm, thảng vẫn có trường hợp một tác phẩm không giao thoa nhau cả vần và nhịp điệu theo đặc trưng thể loại ca dao lục bát. Qua khảo sát cho thấy, ca dao người Việt miền Trung và người Chăm thường giao thoa, tiếp biến nhau trên cơ sở sự biến thể của thể loại. Trường hợp khảo sát trường ca Hbia tà lúi – kalipu của người Chăm ở Phú Yên với ca dao người Việt miền Trung cho thấy điều đó. Đấy là những ca dao lục bát biến thể, câu dài ngắn không giống nhau, gieo vần không theo luật định, về phân phối nhịp điệu có nhịp chẵn 2/2, nhưng cũng có chen xen nhịp 3/3.
Sau đây là bài ca dao biến thể của người Việt miền Trung:
            - Con nhà ai/ nho nhỏ/ mà to gan
            Thấy người ta/ đi lính mộ/ cũng xuống Hàn/ ký tên [[7]]
            Về nhà/ con khóc/ vợ rên
            Hương trên/xã dưới/ bốn bên/ xì xèo
            Vịn vai chàng/ nước mắt /chảy xuôi
            Ai làm/ nên nỗi/ đôi đứa tui/ thế này
            Bước chân/ xuống bến/ tàu Tây
            Chân tròi/ góc bể /biết rày /còn gặp không
            Dậm chân /đấm ngực /kêu trời
            Vợ chồng /gần gũi/ chưa mấy năm trời/ lại xa
            Xứ người/ đất lạ /xông pha
            Cái đời/ lính mộ/ khổ là /biết bao ![8]
Bài ca dao biến thể của người Chăm:
            - Mắm chẳng có/ trong chai
            Chân mang giày/, ta đi/ xuống ph
            Gạo chẳng có/ trong khương
            Mặc váy ngang/, ăn hàng/ giữa ch
            Cá chẳng có/ trong xoong
            Sớ mít thơm/ giấu nơi/ kẹt cửa.[[9]]
            Khảo sát thể ca dao người Việt miền Trung và ca dao người Chăm, cho thấy: về luật 6/8 của ca dao Việt, là:
                                    Câu 6 : b   b   t   t   b   b
                                    Câu 8 : b   b   t   t   b   b   t   b
            (Chữ nghiêng không nhất thiết phải theo đúng luật. Câu ca dao/lục bát người Việt tuân thủ theo luật: nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh).
            Chúng tôi khảo sát, đối chiếu 52 đơn vị ca dao trong hai tác phẩm đơn vị ca dao của người Việt miền Trung và người Chăm nêu trên, có thể rút ra nhận xét sau:
- Ca dao người Chăm không ảnh hưởng cách gieo vần như ca dao người Việt mà phương thức gieo vần như Nghiêm Thẩm đã nhận xét trong Tạp chí nguyệt san Quê Hương (số tháng 6–1962) và mười năm sau đó, nhạc sỹ Phạm Duy đã khảo sát trong sách “Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam” xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn cũng đưa ra nhận xét như Nghiêm Thẩm: âm thứ sáu câu sáu vần với âm thứ câu tám, tức lục bát Chăm gieo vần lưng, chữ thứ sáu dòng lục hiệp với chữ thứ tư dòng bát. Chẳng hạn:
                        - Ciim đơm di dhan kluw pluh,
                        Ciim nau mưsuh klak dhan mưjwa. [[10]]

                        - Thei mai mưng deh theo o
                        Drơh phik kơu lo yaum sa urang
                        Ai đến từ đằng kia xa
                        Giồng người yêu ta riêng chỉ một người.
                                                            (Panwơc Paddit – ca dao)
            Điều này cũng đễ nhận thấy qua khảo sát ca dao người Việt, hiện tượng tương đồng này xuất hiện trong ca dao Việt:
                        Trèo lên cây bưởi hái hoa
                        Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
                                                            (ca dao)
            Nhưng khi chuyển ngữ sang lời ăn tiếng nói người Việt miền Trung thì lại tiếp nhận luật của ca dao lục bát người Việt, tuy nhiên cũng như người Việt miền Trung, chỉ chú trọng chữ thứ sáu mà thôi, còn các chữ ở vị trí nhất, tam, ngũ phối trí thanh tự do theo thao tác kết hợp:
                        (- Băm con chim/ đậu trên cành,
                        Chim đi /chiến đấu/ bỏ cành/ vắng hoang).[[11]]
            Và:
                        Cơk glaung glai cơng mưng nak,
                        Kuw maung mai wơk o bboh dhan phun.
                        (- Núi cao/ rừng lá /che ngang,
                        Ngoái nhìn /nào thấy/ bóng làng /ta đâu.)
            Hoặc:
                        - Thei thuw ka tian kuw lipa,
                        Nhjơm par di ia mưng thuw ka tian.
                        (-Lòng ta/ ai có/ thấu chăng,
                              b    b   b    t     t         b
                        Bèo dưới sông /mới hiểu /tâm tình này.) [[12]]
                           b     t       b       t       t        b     b     b
            - Câu chuyển ngữ trên là một biến thể [[13]] của ca dao lục bát mà ta thường gặp trong kho tàng ca dao người Việt miền Trung. Ca dao người Chăm và người Việt miền Trung thường gặp nhau trong lối ca dao biến thể này, đặc biệt trong ariya Bini Cam. Chẳng hạn sự biến thể như sau đây có thể tìm thấy rất nhiều trong kho tàng ca dao người Việt miền Trung và của người Chăm:
Của người Việt:
-Tay anh cầm/ cần câu trúc,/ lưỡi câu thau
 Muốn câu/ con cá biển/ chớ con cá đồng/ thiếu chi. 
- Đứng bên ni/ sông Hàn
Ngó qua bên tê /Hà Thân/ nước xanh/ như tàu lá
Đứng bên ni /Hà Thân
Ngó qua/ bên tê Hàn/ phố xá/ nghênh ngang
Từ ngày/ Tây lại/ Sứ sang
Đào sông/ Câu Nhí, /bòn vàng /Bồng Miêu
Dăn tấm lòng/ ai dỗ/ em đừng xiêu
Gắng công/ nuôi phụ mẫu /sớm chiều/ có ta ! [[14]]
Của người Chăm:
- Chăm – Bà ni /đâu xa
Cùng màu da, /cùng lòng máu
Chăm – Bà ni/ đâu khó
Cát lồi /chung hạt,/ nước chung nồi
Chăm lấy Bàni /được thôi
Ai rằng/ chẳng được /tội người /ấy mang.
...
- Lân Đất Cày toàn là pday chơ
Hmau jieh kagân ploh jieh chơtroh lô
Xoh hmau halươi ngăh lân nil
Chăm H’roi aĩh ngăh bưng lân nil
Chontrah thoah kah jieh kagân
Chuh, choh xưng lân soi aphuh
Hmau lân soi nà, pla kơtor aphươi
Kơtor, aphươi chăh chơ kôh êm
Kơtoi, aphơi lô chơkah bưng ploh
Ani, xoh lo mơpa tưng. [[15]]
Chuyển ngữ:
Vùng Đất Cày/ toàn rừng núi
Có sông/ Hà Thanh/ và nhiều/ khe suối
Chưa có ai/ khai phá/ đất cày
Người Chăm/ H’roi/ khai phá/ đất này
Phát dọn cây/ hai bên bờ/ sông Hà Thanh
Đốt, cuốc đất thành soi nà rộng lớn
Có đất thục rồi ta trồng bắp, mì
Báp, mì mọc lên tốt tươi
Bắp, mì thu hoạch ăn uống dư thừa
Bây giờ không sợ đói nữa.
- Pơlông Đất Cày – Vân Canh ari a ni
Pơđêh a nghinh thu lân
Chơai nao chơma lum pga kơjău boh ngon
Tum thun nao lơkao
Mơnih ađău đoh lum lân
Ơi ! Puchơ ra, pu chơ đăm
Dù naopơkăh juôi
P’lây Chăm ađău đoh nhớ hoài.[[16]]
Chuyển ngữ :
            Đất Cày - Vân Canh ngày nay
            Vẫn nắng-gió và khô hanh
Anh qua bao vườn cây trái ngọt
Mấy trăm năm rồi
Những người xưa không mất
Người xưa lẫn vào đất
Ơi con gái, con trai
Dù có đi mãi đâu
Cũng nhớ hoài hồn làng.
- Aw juk danuk dalam
Tamư bhum Bicam Ppo Harim Mưh
Rang ngap banơk ga cơk
Kal tada cơk Ppo ngap bimong
Rang ngap banơk gania
Kal tada cơk Ppo rơp bomong
Mưkal Kalaung jwa đei
Rak ni hu palei Ppo Harim Mưh di cơk.[[17]]
Chuyển ngữ :
Áo đen, ôi lũng sâu
Vào đất Ma Lâm thăm Po Harim Mưk
Người đắp đập ngang núi
San sườn núi, Ngài dựng ngọn tháp
Người đắp đập ngang sông
Phả núi bằng, Ngài xây ngọn tháp
Xưa đất Kalong vắng lạnh
Hôm nay núi có Po Harim
Xưa đất Kalong hiu quạnh
Hôm nay núi có xóm thôn.
-Caik tian mưyut thei biai
Tamuh di hatai ai saung adei
Caik tian mưyut saung dei
Calah nau halei, hatai pađik ruw
Caik tian mưyut thei thuw
Rabbah lo than kuw, biak duh hatai
Sa bbơng mưyut saung ai
Ngap yuw gilai dơng krưk tathik
Kak tian kuw bbơng nhjơm phik
Cang ppo lingik jai mai wơk taum [[18]]
Chuyển ngữ:
Yêu nhau chẳng kẻ vẽ bày
Lòng ta chớm nở tình này mà thôi
Yêu nhau mong được chung đôi
Tình sao xa cách mãi cho người thêm đau
Yêu thương ai hiểu cho nhau
Khổ tâm ta với mối sầu tương tư
Yêu nhau biết mấy cho va
Lênh đênh biển sóng em như cánh buồm
Ăn rau đắng, nén nỗi lòng
Gió xô xum họp, chỉ còn mong ơn trời.
Của người Chăm
            Wơy ia tanưh lahơm lahơm
              1    2   3-4    5-6      7-8
            Mưng Bal Canar wơk nau Harơk Kah
              1       2     3-4      5     6     7-8      9
            Tanran riya glai glaung lawah
              1-2    3-4    5     6-7        8
            Than ia rabbah ke tawak takai nai
               1   2    3-4     5   6-7     8-9   10

            Ca dao biến thể như vậy rất tự do trong âm tiết.
Những câu ca dao có lối biến thể như trình bày trên được thể hiện trong lời ăn tiếng nói dân gian Việt – Chăm, chúng ta có thể thấy sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau về thể loại giữa ca dao người Việt miền Trung với ca dao người Chăm.  
Khi chuyển ngữ từ Chăm sang Việt, câu ca dao theo phương thức gieo vần của ca dao người Việt, nhưng thỉnh thoảng vẫn có một vài nghệ nhân dân gian gieo vần ở chữ thứ sáu câu sáu với chữ thứ tư câu tám, thế nhưng trong khi tuyệt đại đa số ca dao lục bát Việt hiệp vần ở chữ thứ sáu thì lục bát Chăm không hề thay đổi gieo vần lưng.
Nội dung phản ánh trong ca dao người Việt và người Chăm cũng có sự gặp nhau trong phản ảnh môi trường, điều kiện lao động sản xuất, trong tình yêu quê hương đất nước, trong quan hệ xóm làng, trong các sự kiện lịch sử tại địa phương, trong tình yêu lứa đôi,... Về nội dung như thế cho chúng ta ngày nay biết được rằng, người Việt miền Trung và người Chăm xưa kia đã có sự giao thoa, tiếp biến hình thức ca dao và cả nội dung phản ánh. Qua khảo sát ca dao Chăm, điều cho chúng ta biết được phương thức gieo vần của ca dao người Chăm không giống cách gieo vần của ca da người Việt. Điều chắc chắn rằng khi câu ca dao có niêm luật đúng là thể loại sáu tám thường tuân thủ theo: nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh từ đồng bằng Bắc bộ đi dần vào Nam đã có sự lệch đi so với phương thức gieo vần như bản thân mà nó vốn có. Đó là sự biến thể của ca dao lục bát nhằm phù hợp với cơ sở thực tiễn của người Việt miền Trung khi giao thoa với người Chăm, Co, Ve, Cờ tu,... bản địa. VVH.



[1] Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2006.
[2] Từ điển thuật ngữ văn học, Chủ biên: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, NXB. GD, 1992.
[3] Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố Chăm, Inrasara, NXB. VHDT, 2006. Tr. 16.
[4] Nếp sống cổ truyền người Chăm, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, Hội VNDG Việt Nam, NXB. LĐ. 2011.
[5] Ca da dân ca đất Quảng, Hội VNDG Việt Nam, NXB. ĐH QGHN. 2010.
[6] Một số nghề, làng nghề truyền thống và văn hóa ẩm thực vùng đất Khánh Hòa, Hội VNDG Việt Nam, NXB Lao động, 2011.
[7] Lính mộ: lính đánh thuê thời thuộc Pháp, được mộ sang Châu Âu tham gia chiến tranh thế giới.
[8] Trong Ca dao, dân ca đất Quảng, Hội VNDG. Việt Nam. NXB. ĐHQG. 2010. Tr. 152.
[9] Trong: Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố Chăm, Inrasara, NXB. VHDT. 2006. Tr. 21.
[10] Nguồn: Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, Inrasara, NXB VHDT, 2006. Tr 18.
[11] Nguồn: Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, Inrasara. Sđd.
[12] Nguồn: Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, Inrasara. Sđd.
[13] Biến thể là thể văn có biến đổi đi. Thể này cũng là thể lục bát, nhưng thỉnh thoảng có chen vào một ít câu mà cách hiệp vần và luật bằng trắc khác thể lục bát truyền thống. Thể biến thể này người Việt thường dùng để viết truyện Nôm khuyết danh: Phạm Công Cúc Hoa,…người Chăm giao thoa với thể biến này thể hiện phần nhiều trong các truyện arija/trường ca.
[14] Trong Ca dao, dân ca đất Quảng, Hội VNDG. Việt Nam. NXB. ĐHQG. 2010.
[15] Nguồn: Nếp sống cổ truyền người Chăm, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, Hội VNDG Việt Nam, NXB. LĐ. 2011.

[16] Nguồn: Nếp sống cổ truyền người Chăm, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, Hội VNDG Việt Nam, NXB. LĐ. 2011.

[17] Nguồn: Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, Inrasara. Sđd.

[18] Nguồn: Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, Inrasara. Sđd.