Thứ Năm, 13 tháng 6, 2013

Giao thoa văn hóa Việt - Chăm nhìn từ tục ngữ

Võ Văn Hòe

Tục là thói quen xã hội được lặp đi lặp lại lâu đời và phổ biến trong cộng đồng, được mọi người công nhận, ngữ là lời nói.
Tục ngữ là loại hình gắn với lời ăn tiếng nói hằng ngày của con người. Trong tục ngữ có câu có vần (vần lưng, vần vòng), nhịp (nhịp hai), có hình ảnh (dụng cụ trong nông nghiệp, con người,…), mặc dầu chúng tồn tại trong câu nói ngắn gọn
Tục ngữ là những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm  trí khôn trong lao động sản xuất mà con người đạt hiệu quả trong giáo dục khi phổ biến trong cộng đồng. Đây cũng là chức năng của tục ngữ. Tục ngữ người Chăm cũng vậy, đúc kết kinh nghiệm sống của người Chăm về tự nhiên, xã hội, trong sinh hoạt gia đình và cộng đồng. Trong sinh hoạt thường ngày tục ngữ dùng để nói, chuyển tải thông tin đến người nghe, do đó tục ngữ thường ngắn chỉ là một đoạn ngữ nên giá trị thông báo của tục ngữ là rất lớn. Điều này do ngôn ngữ tạo nên, khi tín hiệu xuất hiện ngắn, gọn, súc tích và hoàn chỉnh một thông báo, theo đó giá trị biểu đạt về nghĩa (chỉ một nghĩa) của thông báo sẽ tăng lên gấp nhiều lần. Ví dụ, nói: gần mực thì đen gần đèn thì sáng, giá trị sẽ được nâng lên thành nhiều trường ngữ nghĩa khác nhau.
Và vì sự giản lược của tục ngữ, nên trong lời ăn tiếng nói thường ngày, con người sử dụng chúng như một tín hiệu để răn dạy, truyền kinh nghiệm cho người đời sau bất cứ trong hoàn cảnh nào, trong thời gian và không gian phù hợp. Tuy nhiên đặc điểm dễ nhìn nhận rằng, do tính giản lược thành đoạn ngữ nên quá trình sử dụng tục ngữ đôi khi mất đi ngữ cảnh làm cho tục ngữ khó hiểu, khó giải mã một câu tục ngữ khi ngữ cảnh đã được giấu kín chỉ còn là sự vận dụng. Tục ngữ người Việt và người Chăm cũng được sử dụng như vậy.
Đến nay việc sưu tầm, ghi chép lại kho tàng tục ngữ được các nhà nghiên cứu sưu, tầm văn học dân gian ghi chép lại với số lượng đáng kể. Tục ngữ Việt hay Chăm cũng vậy. Tuy nhiên đối với phần văn học dân gian người Chăm, về tục ngữ, câu đố, ca dao,…ít được chú ý sưu tầm, nghiên cứu. Trong sách “Văn học Chăm”, tác giả Inrasara cho rằng: “…Từ một thế kỷ nay, người Chăm và văn hóa – văn minh Chămpa đã được các học giả trong và ngoài nước chú ý nghiên cứu. Một số lượng đáng kể các bài viết, các chuyên khảo hay các công trình có tỉnh tổng hợp về văn minh Chămpa đã ra đời. Nhưng văn học Chăm nói chung đã không tìm được chỗ đứng xứng đáng với tầm vóc của nó. Tục ngữ, câu đố, ca dao,…lại càng ít được chú ý hơn”.
Tục ngữ Chăm chia thành ba nhóm:
- Một là: xuất phát từ người lao động và do nhân dân lao động Chăm sáng tạo nên từ những kinh nghiệm trong lao động sản xuất, trong đấu tranh với tự nhiên, địch họa hoặc trong ứng xử xã hội.
- Hai là: những câu tục ngữ có nguồn gốc từ những thể loại khác, nhiều câu tục ngữ Chăm có nguồn gốc từ những tác phẩm trường ca cổ nổi tiếng, như: Ariya/trường ca Glơng Anak, Pauh Catwai, Dauh Toylơy...
- Ba là: đặc biệt có một bộ phận tục ngữ Chăm chịu ảnh hưởng sâu sắc tục ngữ người Việt.
Điều này chứng tỏ khi dân tộc Chăm cùng chung sống trong đại gia đình dân tộc Việt, người Chăm đã tiếp biến hoặc người Việt chuyển dịch về mặt nghĩa, một số câu tục ngữ của người Việt – Chăm sang lời ăn tiếng nói của mình để làm phong phú thêm lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân và đồng thời gia nhập vào kho tàng tục ngữ người Việt – Chăm làm cho tục ngữ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thêm phong phú.
Qua khảo sát, đối chiếu 366 câu tục ngữ người Chăm trong tác phẩm “Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố Chăm” [[1]] của tác giả Inrasara, với kho tàng tục ngữ người Việt và 135 đơn vị tục ngữ người Việt miền Trung, 107 đơn vị tục ngữ Thùa Thiên – Huế trong tác phẩm “Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên – Huế” [[2]]  Lịch sử Việt Nam trong tục ngữ ca dao [[3]], so sánh, đối chiếu về ngữ nghĩa, hình ảnh, chúng tôi rút ra được sự tương đồng, giao lưu, tiếp biến giữa tục ngữ người Việt và người Chăm. Điều này biểu hiện những kinh nghiệm có được trải qua một thời gian dài, thông qua lao động và các hoạt động, quan hệ thực tiễn khác, người Việt miền Trung và người Chăm đã góp phần làm tăng thêm giá trị kho tàng tục ngữ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Những câu tục ngữ quen thuộc của người Việt:
- Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên
- Có công mài sắt, có ngày nên kim
Đã chuyển thành tục ngữ người Chăm:
- Kuhria bruk pak khaul ita, kaywa Debita mưng jiơng.
- Hu prưn thah pathei, hu harei jiơng sa
Có một số câu tục ngữ rất gần gũi trong cách nhìn, cách nhận thức đời sống, như người Việt có câu:
- Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
Thì người Chăm cũng có câu:
- Ngap Krưn saung urang siam bbak siam
Ngap Krưn saung urang blơk bbak blơk
- Làm quen với người tốt hóa tốt.
Làm quen với người xấu hóa xấu.
Người Việt có:
- Gần mực thì đen/Gần đèn thì sáng
- Ở bầu thì tròn/Ở ống thì dài.
Hoặc:
- Gieo cây nào gặt cây ấy/Gieo gió gặt bão.
Thì người Chăm có:
- Pala tangơy paik tangơy
Pala rabai paik rabai.
- Trồng ngô thì bẻ ngô, trồng đậu thì hái đậu.
Sự gặp gỡ này khó quyết đoán được rằng, người Chăm tiếp biến từ tục ngữ người Việt hay ngược lại. Mà có thể nhìn nhận rằng, đây là tư duy, nhận thức thực tiễn chung của những con người có cùng một lối nhìn, cùng sinh sống, giao thoa và ảnh hưởng văn hóa của nhau; đồng thời cùng tồn tại trên vùng đất có các điều kiện tự nhiên về môi trường địa lý giống nhau.
Trong quan hệ sinh hoạt gia đình, hình thành lối sống, nếp sống, của người phụ nữ, hoặc con cái trong nhà, người Việt có câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm qua quan sát hằng ngày mới có:
- Ngó vô bếp lửa lem hem
Con chị thế nớ, con em thế nào.
Người Chăm có câu:
- Takrư thơu ka  amaik glơng di anưk
Takrư thơu ka pa glơng di halun
Muốn biết chủ hãy nhìn vào tôi tớ
Muốn hiểu người mẹ hãy xem xét bầy con.
Điều này cho biết rằng, nhiều kinh nghiệm được đúc kết thông qua thực tiễn luôn là bài học sinh động, có giá trị giáo dục nền nếp, lối sống cho con cháu đời sau. Hoặc chúng ta có thể tìm hiểu sự giao thoa, tiếp biến sau đây theo cách nghĩ của người Việt:
- Cái nết đánh chết cái đẹp.
Người Chăm lại có:
- Siam binai kamưlai dauk dalam
Jhak binaihâti yơu mưh
Đẹp người nhưng tâm lại là tâm quỷ
Thân hình xấu xí nhưng được quý ở tấm lòng vàng.
Người Việt có câu tục ngữ theo ý nghĩa này:
- Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.
            Theo cách nghĩ như vậy, bài học đạo đức luôn được đề cao, người Việt miền Trung thường có thái độ dứt khoát, “ăn cục nói hòn”, “ăn to nói lớn”, ăn sóng nói gió” thì vẫn có thái độ “ăn ngay nói thẳng” nghĩa là trực tính theo cách của người miền Trung. Ta có câu tục ngữ của người Việt:
            - Ăn ngay nói thẳng.
thì người Chăm trong hoàn cảnh như trên, có câu mang tinh thần ngữ nghĩa như câu tục ngữ người xứ Quảng:
            - Bbơng twei tapak, hwak twei haniim.
            Ăn theo đường ngay, nói (ăn cơm) theo nẻo phúc.
hoặc người Việt có:
            - Ở hiền gặp lành.
người Chăm có sự tương đồng về nghĩa:
            - Bbơng twei patauk, dauk twei gila.
            Ăn theo tính khờ, ở theo nết dại.
Trong giao lưu, tiếp biến nhau giữa người Việt miền Trung và người Chăm, ta còn gặp quan niệm cưới vợ gả chồng có giao thoa nhau, mặc dầu người Chăm đến nay vẫn còn giữ quan hệ mẫu hệ trong hôn nhân gia đình, nhưng qua câu tục ngữ cho biết phần nào sự giao thoa, tiếp biến không chỉ trong lao động sản xuất mà cả trong đấu tranh lựa chọn vợ chồng. Điều này người Chăm thể hiện quan niệm như người Việt, qua câu:
Người Việt có câu biểu hiện thái độ trong hôn nhân:
- Rào thưa hơn bỏ trống.
            - Lấy vợ chọn tông
            Lấy chồng chọn giống.
người Chăm cũng thể hiện quan niệm theo cách lựa chọn này:
            - Kajap paga ywa talei.
            Rào chắc nhờ dây.
            - Nưyah khing kamei, rwah phun pajaih.
            Nếu có lấy vợ thì hãy lựa giống dòng.
Trong ý thức nhớ về nguồn cội, có thể là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi từ đó dòng tộc phát tích ra đi, nơi hình thành cội nguồn dân tộc, người Việt có câu tục ngữ thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”:
- Uống nước nhớ nguồn.
- Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
người Chăm cũng có câu tục ngữ thể hiện tinh thần này:
            - Ia hu halơu, kayơu hu agha
            Nước có nguồn cây có cội.
            - Mưnhum ia dơr haluw
            Uống nước nhớ nguồn.
            - Bbơng bauh kaydu dơr munwis pala
            Ăn trái nhớ kẻ trồng (cây).
            Tương đồng về mặt ngữ nghĩa “cây có cội, nước có nguồn”, ta tìm thấy ở kho tàng tục ngữ người Chăm, câu:
            - Amaik pak halei, anưk pạ nan.
            Mẹ đâu con đấy.
hoặc:
            - Adat kayuw phun hâpk jruh tak nan.
            Lệ của lá là gốc ở đâu thì rụng ở đấy.
Nghĩa này trong tục ngữ người Việt, có câu:
            - Lá rụng về cội.
            - Cây có cội nước có nguồn.
            Tinh thần đoàn kết của các dân tộc anh em Việt Nam đã hình thành lâu đời trong lịch sử dân tộc, điều này thể hiện và được phản ảnh trong tục ngữ người Việt và người Chăm,…Người Việt có câu:
            - Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
            Người trong một nước phải thương nhau cùng.
hoặc:
            - Bầu ơi thương lấy bí cùng,
            Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
hay:
            - Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.
thì người Chăm lại có:
            - Anưk sa paran yơu adei saai sa tian
            Con dân một nước như anh em một nhà.
            Trong quan hệ tha nhân, bạn bè, láng giềng, hoặc quan hệ kẻ trên, người dưới, bài học răn dạy thực hiện mối quan hệ giữa người với người luôn được đề cao và xuất hiện trong hoàn cảnh nói năng với bà con hàng xóm láng giềng, người Việt có câu nhắc nhở:
            - Vuốt mặt chừa mũi.
thì người Chăm trong trường hợp tương đồng cũng có loại tục ngữ này trong lời ăn tiếng nói của họ:
            - Papai bbauh gauk mưta
            Rửa mặt chạm mắt.
            Răn dạy con cái trong quan hệ gia đình, dòng tộc, người Việt thường mượn câu tục ngữ sau đây, thông báo một tín hiệu nhằm nhắc nhở các thành viên chú ý đến tôn ti trật tự trong gia đình, dòng tộc, hoặc biểu hiện thái độ, tính tình, tính cách và suy rộng ra cả trong quan hệ xã hội cũng phải biết trước sau, trên dưới, thứ bậc mà mình cần ứng xử cho đúng:
            - Bàn tay có ngón ngắn ngón dài.
thì người Chăm lại có:
            - Palak tangin hu inư chađieng, inư canơu
            Bàn tay có ngón út, ngón cái.
            Điều này cho biết có sự giao thoa, tiếp biến nhau trong mối quan hệ qua lại trên địa bàn cư trú và xuất phát từ sự răn dạy đạo đức chung của con người trong nền tảng văn hóa dân gian Đông Nam Á.
            Trong cuộc sống, thường có điều hay lẽ phải, nhưng không ít những thói hư tật xấu, những buồn phiền bu bám, đeo đuổi theo mỗi con người. Thời gian thăng hoa hay vui tươi hạnh phúc thường tồn cùng năm tháng đời người nhưng thường ngứt đoạn. Sự thăng hoa không liên tục, không kéo dài nhưng ngược lại (có thể) trong cuộc sống, nỗi buồn, điều phiền muộn thường ngự trị tâm hồn mỗi người dai dẳng và thường xuyên. Con người ta cảm thấy giàu có, sung sướng và hạnh phúc là rất ít trong một đời người, nhưng lại đón nhận khổ đau trong bệnh tật, túng thiếu với cơm, áo, gạo, tiền là điều thường xuyên cả một đời người. Lại thêm, trong cuộc sống nỗi phiền muộn còn thể hiện thái độ sống, đôi khi thể hiện sự hèn hạ. Người Việt có câu tục ngữ:
            - Vào lùn ra cúi.
làm cho ta liên tưởng đến câu thơ nguyễn Du: “Vào lùn ra cúi công hầu mà chi” đã trở thành dân gian hóa, và trong trường hợp biểu hiện thái độ, lối sống chỉ biết lùn cúi, người Chăm cũng có câu phản ảnh thái độ như thế:
            - Tamư kuk tabiak jwak
            Vào lùn ra cúi.
Hoặc phê phán thái độ thờ ơ, bỏ bê công việc, thể hiện nhân sinh quan trong cuộc sống, trong công việc chung của tập thể, gia đình hay dòng tộc, người Việt thông qua cuộc sống thực tiễn có câu tục ngữ, rằng:
            - Không có chó bắt mèo ăn cứt.
thì trong kho tàng tục ngữ người Chăm, giao thoa với nghĩa này, có câu:
            - O hu asơu mưk mưyaw bbơng aih
            Không có chó bắt mèo ăn cứt.
            Trong lao động sản xuất, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh của mỗi người trong cộng đồng gia đình, làng xóm hay trong một tập thể, trường hợp gặp phải khó khăn, nghèo ngặt, các thành viên thường giúp đỡ nhau theo quan niệm: nhiễu điều phủ lấy giá gương,…nhưng để giữ được cuộc sống lâu dài thì phải vận động nhau phát huy cá tính sáng tạo trong lao động sản xuất, làm ra của cải vật chất nuôi sống bản thân mình. Người Việt có câu tục ngữ nhắc nhở và khẳng định:
            - Có làm có ăn.
            - Không làm không ăn.
hoặc:
            - Ai làm nấy ăn.
thì người Chăm lại có:
            - Hu ngap ka mưng hu si bbơng
            Có làm mới có ăn.
            Trong quan hệ gia đình dòng tộc, người Việt có câu:
            - Một người làm quan cả họ được nhờ.
thì người Chăm cũng có câu tục ngữ tương đồng về mặt nghĩa biểu đạt:
            - Gơp ngap kwan patian hu si nhơ
            Bà con làm quan họ hàng được nhờ.
            Chúng ta có thể tìm thấy sự tương quan về mặt ý nghĩa của những câu tục ngữ răn dạy, đúc rút kinh nghiệm qua nhiều thời kỳ lịch sử của hai dân tộc Việt – Chăm để có thể tìm thấy quá trình giao lưu, tiếp biến giữa nhau, làm phong phú kho tàng tục ngữ Việt Nam:
            Người Việt có câu tục ngữ răn dạy con người:
            - Khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương.
Người Chăm cũng có sự tương đồng:
            - Jak patruh urang taka, gila bbơng asar.
            Khôn cho người vái, dại cho người thương.
hoặc, người Việt có câu:
            - Dao có mài mới sắt.
            - Mài sắt nên kim.
            - Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài,
            Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi.
thì người Chăm lại có:
            - Ajaung halwơk kaywa thah, munwis dah kaywa mưgru
            Rìu có mài mới sắc, người có học mới khôn.
Qua khảo sát và đối chiếu về nghĩa, vần, nhịp điệu tục ngữ giữa người Việt miền Trung và người Chăm, chúng ta còn gặp nhiều câu tục ngữ có sự tương đồng hoặc giao thoa thiếp biến lẫn nhau trong quá trình thể hiện trí khôn của con người, cộng đồng trong sinh sống và phát triển. Ta gặp các câu tục ngữ sau đây giao thoa nhau giữa người Việt với người người Chăm (trình bày: câu trên người Việt, câu dưới người Chăm):
           
            - Máu chảy ruột mềm.
            -Darah thei tanhjauh thei pađik.
            Máu ai đổ nấy xót.

            - Bứt dây động rừng.
            - Ruc haraik mưgei rom
            Bứt dây động rừng.

            - Khó người khó ta.
            - Kan urang kan drei
            Khó người khó ta.

            - Dễ người dễ ta.
            - Bbwơn urang bbwơn drei
            Dễ người dễ ta.

 - Giận chấy đốt áo.
            - Ginaung di katuw cuh aw.
            Giận chấy đốt áo.

             - Trèo cao té nặng.
             - Caung glaung laik bier.
            Ước cao rơi thấp.

            - Giấu đầu lòi đuôi.
            - Ppadơp akauk bblauw iku.
            Giấu đầu lòi đuôi.

            - Ít xít ra nhiều.
            - Takik rik ka ralo.
            Ít xít cho nhiều.

            - Xuống sông mới biết sông sâu.
            Thức đêm mới biết đêm dài.
            - Nau dalam ia mưng thuw ia dalam.
            Đi trong nước mới biết nước sâu.

            - Tiền đẻ ra tiền.
            - Jien mưnưk tabiak jien.
            Tiền đẻ ra tiền.

            - Của không ngon đông con cũng hết.
            - Pabah bbơng jalơh cơr.
            Miệng ăn lở núi lở non.

            - Ai chửi nấy nghe.
            Ai dại nấy chết.
            Ai biết nấy khôn.
             Ai làm nấy hưởng.
            - Thei pwơc urang nan pơng.
            Ai chửi thì nấy nghe.

            - Nói trước bước không khỏi.
            - Đom dahluw sauw bboh.
            Nói trước thì chỉ chó thấy được.

            - Nói có sách mách có chứng.
            - Đom hu tapuk, duk hu tal.
            Nói có sách, so có kinh.

            - Nói thật mất lòng.
            -Panwơc tâpk trak tian.

            - Cha nào con nấy.
            Thầy nào trò nấy.
            - Amư halei anưk nan.
            Cha nào con nấy.

            - Ác lai ác báo.
            - Ia pabah drei taprah nhjơp drei.
            Nước miếng mình lại văng trúng mình.

            - Cười người hôm trước hôm sau người cười.
            - Klau ka urang, bboh drei.
            Cười cho người, thấy hiện nơi mình.

            - Nồi nào vung nấy.
            - Gauk halei tuk nan.
            Nồi nào vung nấy.

            - Mía sâu có đốt nhà dột có nơi.
            - Tabuw bruk hu tuk.
            Mía sâu có đốt.

            - Ở hiền gặp lành.
            - Dauk nhjơp bboh nhjơp.
            Ăn ở thành thật thì gặp những điều hay.

            - Của ai người ấy giữ.
            Duyên ai phận nấy.
            - Drơp thei mai ka thei.
            Của ai về với người nấy.

            - Phần ai nấy hưởng.
            - Nok thei thei tok.
            Phần ai nấy hưởng.

            - Giống nào cây nấy.
            Thầy nào trò nấy.
            Cha nào con nấy.
            - Pajaih halei phun nan.
            Giống nào cây nấy.

            - Thuốc đắng giả tật.
            - Khing ka diip bbơng bbrai.
            Muốn sống thì uống thuốc đắng.

            - Chết rày sống mai.
            - Diip harei ni, mưtai harei paguh.
            Sống bữa nay, chết bữa mai.

            - Sống ngày nào hay ngày nấy.
            - Diip harei halei thuw harei nan.
            Sống ngày nào hay ngày nấy.

            - Người chết hết nợ.
            - Mưtaiklauh thraiy.
            Chết hết nợ.

            - Chết trước được mồ mả.
            - Mưtai dahluw luc hadei.
            Chết trước thì khỏi chết sau.

            -Đánh chó hổ mặt chủ nhà.
            - Ataung asuw mưluw ppo.
            Đánh chó thì hổ chủ.

            - Vừa mắt ta mới ra mắt người.
            - Gap urang gap drei.
            Vừa ta vừa mình.

            - Đèn nhà ai nấy sáng.
            - Sang thei thei thuw.
            Nhà ai nấy biết.

            - Hồn ai nấy giữ.
            Chuyện ai nấy biết.
            Việc ai nấy lo.
            - Yaut thei thei guy.
            Gùi ai nấy mang.

            - Suy bụng ta ra bụng người.
            - Xanưng tung urang tung drei.
            Nghĩ bung ta, so bụng người.

            - Có ta có mình.
            - Hu urang hu drei.
            Có mình có ta.

            - Cháy như lửa rơm.
            - Apwei pong padơm drah.
            Lửa rơm mau tắt.

            - Thùng rỗng kêu to.
            - Ia mưtưh ia tabblak.
            Nước lưng thùng thì thường sóng sánh.

            - Có mới nới cũ.
            - Bobh biruw wơr klak.
            Thấy mới quên cũ.

            - Lạc ngõ theo trâu, lạc nhà theo chó.
            - Mưhu ia twei kabaw, wơr jalan nau twei asuw.
            Khát nước theo trâu, quên đường theo chó.

            - Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.
            - Kuhria bruk pak khaul ita, kaywa Debita mưng jiơng.
            Tính chuyện bởi chúng ta, thành chuyện bởi thượng đế.

            -Trời kêu ai nấy dạ.
            - Ppo ppadauk pak halei thuw pak nan.
            Trời định đâu hay đấy.

            - Rồng đi vết hãy còn.
            - Ikan klah kakah dauk gơm.
            Cá sẩy nhưng vảy còn lưu.    (v.v...)  VVH.

            - Con sâu làm rầu nồi canh.
            - Ikan bruk ngap mưluk ikan siam.
            Một con cá thối làm rối cá lành.
            Một con cá ươn làm thối luôn cả rổ cá.




[1] Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, Inrasara, Nxb. VHDT, 2008.
[2] Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên – Huế, Hội VNDG Việt Nam, Lê Văn Chưởng, Nxb. VHTT. 2012.
[3] Lịch sử Việt Nam trong tục ngữ, ca dao, Hội VNDG Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Dân, Nxb. ĐHQG Hà Nội, 2010.

Giao thoa văn hóa Việt - Chăm nhìn từ thành ngữ

Võ  Văn  Hòe

            Thành ngữ là một cụm từ có sẵn, là một đoạn câu mà trong quá trình sử dụng tương đối có kết cấu cố định và bền vững nhưng chưa thể đưa ra hay thông báo một ý nghĩa hoàn chỉnh như tục ngữ mà nhằm thông báo một quan niệm nào đó dưới hình thức một đoạn câu có sẵn mang tính chất sinh động, hấp dẫn khi biểu đạt cho người khác. Và vì mới chỉ là thông báo một quan niệm và chưa hoàn chỉnh về ngữ nghĩa nên trước sau thành ngữ cũng được các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu và xem chúng tương đương như từ. Tuy nhiên trong lời ăn tiếng nói hằng ngày đoạn ngữ được chọn lựa và sử dụng vào hoàn cảnh nói năng, phù hợp với hoạt động thực tiễn nên lời ăn tiếng nói cô đọng đó được sử dụng thường ngày và trở thành thành ngữ lưu hành trong nhân dân.
            Trong quá trình sinh sống cộng cư với người Chăm tại miền Trung, người Việt đã đưa vào trong vốn thành ngữ của mình những quan niệm trong cuộc sống đời thường liên quan đến tự nhiên, xã hội, con người mà người Chăm đã đúc kết được. Ngược lại, người Chăm đã tiếp biến giá trị thành ngữ của người Việt miền Trung nhằm thể hiện quan niệm về cuộc sống, phương thức ứng xử với tự nhiên, xã hội vào trong lời ăn tiếng nói của mình.
            Qua so sánh, đối chiếu 863 thành ngữ trong sách “Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố” của Inrasara với thành ngữ miền Trung trong các tác phẩm sưu tầm của các tác giả miền Trung (bổ sung tác phẩm, số câu vào chỗ này), cho thấy có sự giao thoa nhau về quan niệm. Tìm sự tương đồng và dị biệt lời ăn tiếng nói giữa các vùng/miền đã được con người đặt ra từ rất sớm. Khi hình thành giai cấp, con người đã ý thức về riêng tư, của ta của người, của mình của họ,...Để có khái niệm về sự tương đồng và dị biệt trong thành ngữ của người Việt miền Trung và người Chăm, thực tiến phải kinh qua quá trình nhận thức về sự vật và hiện tượng có cùng chung thuộc tính, từ đó mới có thể đưa ra quan niệm về nó một cách tương đối được. Không trùng lắp hoàn toàn ý niệm, nhưng xét về mặt nghĩa có có sự gặp nhau trong quan niệm dân gian về một vấn đề, sự vật nào đó được đưa ra trong hoàn cảnh nói năng nào đó, nhằm hướng ý thức con người đến với sự vật, hiện tượng và tính chất, đánh giá về nó. Người Việt miền Trung và người Chăm có cùng môi trường địa lý, cùng sống đan xen nhau thì chắc chắn có sự trao đổi nhau, ảnh hưởng nhau qua lại trong hấu hết các hoạt động liên quan đến con người đã xảy ra trong lịch sử.
 Trong khảo sát, đối chiếu thành ngữ để tìm xem sự tương đồng, giao thoa nhau cùng lời ăn tiếng nói người Việt miền Trung với người Chăm, chúng tôi không phân thành từng nhóm vấn đề mà so sánh những yếu tố trong thành ngữ có sự tương đồng hoặc giao thoa nhau để đi đến thống nhất rằng, đã có sự gặp nhau trong lời ăn tiếng nói người Việt miền Trung và người Chăm trong lịch sử phát triển, đã tham gia vào tiến trình nâng cao giá trị thành ngữ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
            Sau đây là một số thành ngữ có sự tương đồng, hoặc giao thoa nhau (dòng trên: thành ngữ Việt; dòng dưới: thành ngữ Chăm):
- Đầu tắt mặt tối.
                        -  Akauk trun taika tagok.
                        Đầu xuống chân lên.

                        - Đầu đội vai mang
                        - Akauk đwa bira anaung.
Đầu đội vai gánh.

- Đất khách quê người.
- Ata palei karei angan.
Xa làng khác tên.

- Chửi mèo mắng chó.
- Ataung asuw ataung mưyaw.
Đánh chó đánh mèo.

- Khố rách áo ôm.
- Asuw kaih klaih iku.
Chó ghẻ đứt đuôi.

- Con đàng cháu đồng.
- Anưk tacauw yơng rup
Con cháu quanh mình.

- Hết lòng hết dạ.
- Abih tung abih hâti.
Hết lòng hết dạ.

- Bán sống bán chết.
- Alah mưtai alah diip.
Biếng chết biếng sống.

- Của ngon vật lạ.
- Ahar crih bauh bingi.
Bánh lạ quả ngon.

- Nước đổ đầu vịt.
Nước đổ là môn.
- Ia mưta biya.
Nước mắt cá sấu.

- Hỉ mũi chưa sạch
- Wak ia idung ka o hacih.
Vắt mũi chưa sạch.

                        - Cơm bưng nước rót.
                        - Wak xalau raw dwơh.
                        Lau mâm rửa đũa.

- Bó chân bó tay.
- Ikak takia ikak tangin.
Cột tay cột chân.

- Thắt lưng buộc bụng.
- Ikak tian ralan hwa.
Bụng buộc lê lết.

- Ngón ngắn ngón dài.
- Inư kađieng inư canuw.
Ngón út ngón cái.
                       
- Đuổi như đuổi tà.
- Ew yuw urang ew bhut.
Réo như réo tà.

- La trời la đất.
- Rw lingik ew tathik.
Kêu trời kêu biển.

- Kêu trời không thấu.
- Ew lingik lingik o hamit.
Kêu trời trời không nghe.

- Chưa chết đã hôi.
- O ka mưtai blauh bbuw bruk.
Chưa chết đã bốc mùi thối.

- Chân cứng đá mềm.
- Kajap tangin khơng takai.
Chân cứng tay vững.

- Gần kề miệng lỗ.
- Kajaik tamưr labang mưtai.
Gần kề hố chết.

- Trời đánh thánh đâm.
- Katal klak kamak blah.
Trời đánh thánh vật.

- Ngứa mồm ngứa miệng.
- Katơl cabbwai katơl dahah.
Ngứa mồm ngứa lưỡi.

- Bạt núi ngăn sông.
- Kalcơk bơk banơk
San núi đắp đập.

- Da bọc xương.
- Kalik đung talang.
Da bọc xương.

- Ngậm đắng nuốt cay.
- Kaik lithun kaik liya.
Cắn hành cắn gừng.

- Tai vách mạch rừng.
- Kaung paga hu tangi.
Hàng rào có tai.

- Đứt ruột đứt gan.
- Klaih tung klaih hâti.
Đứt ruột đứt gan.

- Hết lòng hết dạ.
- Klauh tung klauh hâti.
Hết lòng hết dạ.

- Nửa đường đứt gánh.
- Klauh yaut mưtưh nwơc.
Sút gùi nửa chừng.

- Ba đầu sáu tay.
- Kluw gah tangin, tajuh gah takai.
Ba tay bảy chân.

- Giữ mồ giữ mả
- Khik kut khik tathat.
Giữ kut giữ tathat.

- Giữ mồm giữ miệng
- Khik cabbwai khik dalah.
Giữ mồm giữ lưỡi.

- Ép nợ ép duyên.
- Khing aip khing tatơk.
Lấp ép lấy đè.

- Câm miệng hến.
- Khup khauw kamauw nhai.
Câm miệng hến.

- Làm tới đâu hay tới đó.
- Ngap tơl halei thuw tơl nan.
Làm tới đâu hay tới đấy.

- Làm vương làm tướng
- Ngap patau ngap bia.
Làm vua làm hoàng hậu.

- Làm chơi xơi thiệt
- Ngap mư-in bbơng biak.
Làm chơi xơi thiệt.

- Làm bộ làm tịch.
- Ngap mưnuh ngap mưnưng.
Làm bộ làm tịch.

- Làm như ăn cướp.
- Ngap yuw urang pauh blah.
Làm như ăn cướp.

- Giả đui giả điếc.
- Ngap langauh ngap taglauh.
Giả điếc giả đui.

- Giả điên giả dại.
- Ngap hanrwai ngap taba.
Giả điên giả dại.

- Thâm căn cố đế.
- Cak kơng cak languw.
Thâm căn cố đế.

- Hoa hòe hoa sói.
- Cih bingu cih hala.
Vẽ hoa vẽ văn.

- Cầu được ước thấy
Cầu tất ứng nguyện tất thành.
- Caung patwah dwah jamauw.
Cầu được ước thấy.

- Chim trời cá nước.
- Ciim di glai.
Chim trong rừng.

- Đắt như vàng.
- Chet yuw jru.
Đắt như vàng.

- Khôn từ trong trứng
- Jak mưng dalam tian amaik.
Khôn từ trong lòng mẹ.

- Kẻ cắp bà già gặp nhau
- Jađak gauk jađun.
Jađak gặp jađun.

- Sức cùng lực kiệt.
- Jauh jauw mat.
Què quặt chân tay rệu rã tinh thần.

- Nên vợ thành chồng.
- jiơng hadiip jiơng pathang
Nên vợ nên chồng.

- Nên cơm nên cháo.
- Jiơng ia jiơng lisei.
Nên nước nên cơm.

- Nên công nên chuyện
- Jiơng bruk jiơng kadha.
Nên công nên chuyện.

- Nên của nên cải
Nên cửa nên nhà.
Nên gia nên thất.
- Jiơng bbơng jiơng angwei.
Nên của nên cải.

- Như hình với bóng.
- Jwak sa takai.
Đạp dấu chân.

- Ganh ăn ghét ở.
Ghét ăn tức ở.
- Jhak hâti pađiak mưta.
Xấu bụng nóng mắt.

- Ba chân bốn cẳng.
- Takai kluw takai ppak.
Chân ba chân bốn.

- Tiến thoái lưỡng nan.
- Tagok gauk yuw kadun gauk paraik.
Tiến thì đụng áchlui thì chạm càng.

- Bấm bụng bấm gan.
- Tatơk tung tatơk tian.
Nén bụng nén dạ.

- Chín nẫu ruột gan.
- Tathak tung tathak hâti.
Chín bụng chín gan.

- Thẳng ruột ngựa
- Tâpk đak raung.
Thẳng cong lưng.

- Vui như mở hội.
- Tapơh tung tapơh hâti.
Nức lòng nức dạ.

- Mất hồn mất vía.
- Tapơh prưn tapơh yawa.
Bay hồn bay vía.

- Thâm sơn cùng cốc.
- Tachauk cơk kawơk glai.
Xó núi khuất rừng.

- Bấm bụng bấm gan
- Tatơk tung tatơk tian.
Đè bụng đè dạ.

- Qua ngày đoạn tháng.
- Tappa harei tappa bilan.
Qua ngày qua tháng.

- Sa cơ thất thế.
- Tablait tangin tachaur takai.
Trật tay sẩy chân.

- U mê ám chướng.
- Tadar  hatai tadar phik.
Bít dạ nghẽn mật.

- Thuận vợ thuận chồng.
- Hu hadiip hu pathang.
Đồng vợ đồng chồng.

- Nở mặt nở mày.
- Hu bbauk hu mưta.
Mở mặt mở mày.

- Ruộng sâu trâu nái.
- Hamu bhum kabaw wal.
Ruộng sở trâu chuồng.

(...)


            Trong số 863 thành ngữ người Chăm đã được Inrasara sưu tầm trong “Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố”, qua đối chiếu, thống kê, chúng tôi nhận được sự tương đồng nhau về mặt quan niệm (nào đó) trong cuộc sống là 245/863, tỉ lệ 28,38% giữa người Việt miền Trung và người Chăm. Điều đó cho thấy rằng, trong cùng điều kiện địa lý tự nhiên và phần nào có cùng quan niệm trong triết lý âm – dương, trên –  dưới, đực – cái có nhiều nét tương đồng giữa hai dân tộc Việt – Chăm không có sự cách biệt nhiều lắm. Người Chăm dùng lịch Chăm nhưng lại cũng có mười hai con giáp nên đã ảnh hưởng, giao lưu văn hóa dân gian của nhau, đã thể hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của cư dân tại miền Trung Việt Nam. Người Việt miền Trung đến cộng cư với tiền trú phương Nam, họ mang theo nền văn hóa dân gian bản địa ra đi để rồi từ đó tiếp cận với thực tiễn vùng đất mới làm nảy sinh những thành tố văn hóa dân gian mới. Văn hóa dân gian người Việt kết hợp với yếu tố sẵn có tại địa bàn cư trú mới, hòa quyện nhau tạo nên một dạng thức văn hóa dân gian phong phú, từ đó góp phần và làm tăng giá trị và làm đậm đà nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Thành ngữ cũng xuất phát từ lời ăn tiếng nói của người dân cả Việt lẫn Chăm không ngừng được mở rộng, cung cấp khái niệm, làm phong phú nội hàm biểu đạt. Trong di sản văn hóa phi vật thể, thành ngữ người Việt miền Trung hay Chăm đều hiểu là sản phẩm tinh thần  có giá trị văn hóa lịch sử mà trải qua nhiều thế kỷ mới hình thành nên được và được lưu giữ bằng trí nhớ, lưu truyền bằng miệng trong dân gian và thường xuyên được sử dụng là công cụ trong giao tiếp. Ở đó phát huy chức năng giáo dục, phản ánh của thành ngữ như là một biện pháp thể hiện tư duy con người về hiện tượng tự nhiên, xã hội của người Việt tại vùng Trung bộ Việt Nam. Sự kết hợp, tương đồng hoặc giao thoa nhau giữa thành ngữ Việt – Chăm cho thấy đã tác động rất lớn và sâu sắc đến văn hóa dân gian miền Trung, tạo nên sự đa dạng và bền vững của lời ăn tiếng nói dân gian trên vùng đất mới.

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

Truyện cổ dân gian Việt Nam với vấn đề dựng nước và giữ nước


Bùi Văn Tiếng
1. Truyện cổ dân gian Việt Nam có nhiều truyện chủ yếu phản ánh quá trình dựng nước của người Việt. Truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh kể về cuộc chạy đua giành công chúa Mỵ Nương của hai vị thần Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, thực chất là sự thể hiện tư duy địa - chính trị của người Việt cổ. Giữa Sơn-Tinh-miền-núi và Thủy-Tinh-miền-biển, người Việt thời đại Hùng Vương sẽ chọn địa bàn nào để làm trung tâm chính trị của nước Văn Lang? Câu trả lời là chọn địa bàn miền núi với lợi thế thiên về phòng thủ của núi rừng - sự lựa chọn này kéo dài đến đời nhà Đinh và nhà Tiền Lê. Với tư duy địa - chính trị như vậy nên sự thiên vị của vua Hùng dành cho nhân vật Sơn Tinh khi ra đề thi cũng là điều dễ hiểu. Đương nhiên người Việt cổ không hoàn toàn quay lưng với biển: Thủy-Tinh-miền-biển vẫn được quyền ứng thí, vẫn có khả năng trở thành phương án được lựa chọn làm phò mã, tức trên danh nghĩa vẫn được bình đẳng về cơ hội với Sơn-Tinh-miền-núi.
Thậm chí đảo hoang ngoài khơi xa vẫn nằm trong tầm nhìn lẫn tầm với của vua Hùng, và qua truyện Sự tích quả dưa hấu có thể thấy nhà vua từng hạ lệnh đày Mai An Tiêm ra một hoang đảo - là nơi mà nói theo ngôn ngữ ngoại giao bây giờ là thuộc chủ quyền của nước Văn Lang trên biển. Cũng qua truyện Sự tích quả dưa hấu, có thể thấy tư duy trọng nông của người Việt cổ thể hiện trong chi tiết nghệ thuật Mai An Tiêm trồng dưa hấu trên đảo thay vì đánh bắt cá dưới biển để mưu sinh. Tuy nhiên cũng có thể tiếp cận chi tiết nghệ thuật này theo một cách nhìn khác: giữa không gian sống là biển cả mênh mông, Mai An Tiêm không thể không bị tác động và đã trở thành nhân vật đầu tiên của thế giới nghệ thuật truyện cổ dân gian Việt Nam có tư duy hướng biển: Mai An Tiêm chính là người có công đưa quả dưa hấu vào thị trường kinh tế biển.
Sự tích Trầu CauSự tích Táo quân là hai truyện đề cao quan niệm hôn nhân một vợ một chồng nhằm góp phần xác định mô hình gia đình làm giềng mối cho kỷ cương xã hội đương thời. Thật ra thì chưa thấy có truyện cổ dân gian nào không đề cao quan niệm hôn nhân một vợ một chồng, nhưng điểm độc đáo của Sự tích Trầu CauSự tích Táo quân là sự kết-nối-tay-ba-sau-cái-chết: ở Sự tích Trầu Cau, sau khi chết người em hóa thành hòn đá vôi, người anh hóa thành cây cau và người vợ hóa thành dây trầu hòa quyện cùng nhau trong miệng người ăn trầu; còn ở Sự tích Táo quân, sau khi chết người vợ, người chồng trước và người chồng sau đã trở thành ba vị thần táo ngồi bên nhau trong góc bếp mọi nhà.       
2. Lại cũng có nhiều truyện cổ dân gian Việt Nam chủ yếu phản ánh quá trình giữ nước như truyện kể về người anh hùng làng Gióng, hay truyện kể về thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thuỷ... Nếu như hình ảnh con rồng bay trên không lúc ban đêm và có khả năng phun lửa rất phổ biến trong nhiều truyện cổ dân gian của vương quốc Anh và các nước Bắc Âu thì lần đầu tiên và duy nhất trong truyện cổ dân gian Việt Nam xuất hiện con ngựa sắt có khả năng phun lửa của người anh hùng làng Gióng. Chi tiết nghệ thuật độc đáo này thể hiện quan niệm của người Việt về sự đồng hành giữa sức mạnh của lòng yêu nước với sức mạnh của vũ khí hiện đại, bởi làm thế nào người anh hùng làng Gióng có thể rượt đuổi giặc thù phương Bắc trên đồng đất quê hương bằng đôi chân trần trụi, cho dù đó là đôi chân to lớn của người khổng lồ? và làm thế nào có thể rượt đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi nếu hỏa lực không đủ mạnh, nếu con ngựa sắt không đủ lửa để phun ra?
Cũng thể hiện quan niệm của người Việt về sự đồng hành giữa sức mạnh của lòng yêu nước với sức mạnh của vũ khí hiện đại - chiếc nỏ thần, nhưng truyện kể về thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thuỷ lại đi theo một hướng khác: tổng kết kinh nghiệm thất bại - chứ không phải kinh nghiệm chiến thắng - trong chiến tranh vệ quốc. Kinh nghiệm thất bại như một thông điệp để đời của thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thuỷ là đừng bao giờ mang “Trái tim nhầm chỗ để trên đầu - Nỏ thần vô ý trao tay giặc” (thơ Tố Hữu), bởi với một kẻ thù xâm lược thâm độc và xảo quyệt luôn nói một đường làm một nẻo như vậy mà mất cảnh giác, mà không bảo vệ được bí mật quốc gia, mà không giữ kín được bí mật quân sự thì cũng đồng nghĩa với việc sớm đưa đất nước rơi vào tay ngoại bang, sớm đưa dân tộc vào cảnh đời nô lệ.    
3. Nhưng phân tích kỹ nhiều truyện cổ dân gian Việt Nam thuộc đề tài này, có thể thấy có sự đan xen giữa hai quá trình dựng nước và giữ nước, trong dựng nước có giữ nước và trong giữ nước có dựng nước. Thánh Gióng là chuyện đánh giặc giữ nước, mà cũng là chuyện dùng người tài, chuyện nhân cách (cách Gióng vào cõi nhân gian đã phi thường, cách Gióng rời cõi nhân gian càng phi thường hơn). Sơn Tinh - Thuỷ Tinh là chuyện tình tay ba, chuyện ông vua thiên vị, mà cũng là chuyện đắp đê chống lụt - ở đây hiểu thiên tai là một loại kẻ thù cần phải chống như địch họa (có khi hai loại kẻ thù này đến cùng lúc: “Lụt bắc lụt nam máu đầm biên giới - Tay chống trời tay giữ nước căng gân” - thơ Tố Hữu). Mỵ Châu - Trọng Thủy là chuyện xây thành và chế tạo vũ khí hiện đại, là chuyện cảnh giác với hoạt động gián điệp, mà cũng là chuyện hôn nhân có yếu tố nước ngoài và tình yêu không biên giới…
Truyện Sự tích Hồ Gươm thể hiện mối quan hệ giữa giữ nước và dựng nước theo một nhãn quan khác. Truyện kể rằng đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân Lam Sơn mượn gươm thần để giết giặc và trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành khắp các trận địa làm cho quân Minh kinh hồn bạt vía, phải cam chịu thất bại mà rút khỏi nước ta. Như vậy Sự tích Hồ Gươm cũng nằm trong mạch truyện cổ dân gian thể hiện quan niệm của người Việt về sự đồng hành giữa sức mạnh của lòng yêu nước với sức mạnh của vũ khí hiện đại. Nhưng Sự tích Hồ Gươm còn đi xa hơn truyện kể về người anh hùng làng Gióng và truyện kể về thiên tình sử Mỵ Châu - Trọng Thuỷ thông qua chi tiết nghệ thuật rùa vàng đòi Lê Lợi trả lại gươm thần cho Long Vương ngay giữa hồ Tả Vọng - nay đổi tên là Hồ Gươm hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm. Chi tiết nghệ thuật trả lại gươm thần sau khi chiến thắng kẻ thù xâm lược chứng tỏ người Việt thiện chiến chứ không hiếu chiến đồng thời chứng tỏ cái cần hơn trong xây dựng hòa bình không phải là vũ khí hiện đại mà chính là lòng dân. Thì chẳng phải quân Minh xâm lược nước ta hàng chục năm trời là do trong thời bình, nhà Hồ đã không xây dựng được thế trận lòng dân - một yếu tố sống còn như Hồ Nguyên Trừng con trai Hồ Quý Ly từng lo ngại: “Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi đó sao? Tất nhiên trả lại gươm thần không có nghĩa là thời bình không đòi hỏi phải mài sắc ý thức cảnh giác, không đòi hỏi phải thường xuyên luyện tập thập bát ban võ nghệ, và từ sau ngày Lê Lợi hoàn kiếm năm xưa, người Việt dẫu rất mong muốn được sống hòa hiếu bình yên, cũng nhiều lần buộc phải mượn lại gươm thần và tuốt gươm ra khỏi vỏ…   
                              Viết tại Học viện Quốc phòng, tháng 10 năm 2012