Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Sông Hàn bữa ấy!

Võ Văn Ba
 
 
        Xin được bắt đầu bằng hai nhịp mở của lời ca dao thống thiết với những tiết tấu quen thuộc đã đi vào lòng người Đà Nẵng từ thưở Tây lại sứ sang. Nhưng điều ấy sẽ được làm rõ hơn, sẽ diễn luận rộng hơn trong các trang viết sau. Trước hết, hai câu mở đã phác hoạ trên nên một đối cảnh đau lòng “Đứng bên ni Hàn/ Ngó qua bên tê Hà Thân”. Chúng ta dừng lại ở nhịp ngắt mạch ấy, để lắng sâu vào tâm hồn mình với trạng thái chủ thể quặn thắt giữa “bên ni “ và “bên tê “ của hai bờ ruột thịt.
      Bên ni là đất nhượng địa, là đất bị giặc chiếm đóng. Bên tê là vùng nông thôn cơ cực, xác xơ!  Bài ca dao bước ra từ sau ngày giặc chiếm đóng quê nhà.
      Tuy nhiên trước khi Pháp quyết định liên quân cùng với Tây Ban Nha chính thức đánh chiếm Đà Nẵng, một tiền cảng quan yếu (avant port important), thì bọn chúng đã nhiều lần dọ thám, rồi hăm dọa, phô trương lực lượng, thị uy thanh thế. Những sự kiện ấy được lật ra từ sử liệu:
            Năm 1822, và năm 1825, hai lần Pháp đưa tàu chiến vào cảng Đà Nẵng để giương oai. Bọn chúng đòi triều đình Huế thả các giáo sĩ bị bắt. Đòi được tự do buôn bán.
             Năm 1845, lại hai lần nữa chúng dọa dẫm rồi bỏ đi.
             Hai năm sau đó, tháng 3 – 1847, tàu Pháp vào Đà Nẵng, thuyền trưởng và các giáo sĩ ngang nhiên xông thẳng vào công quán.
         Ngày 15 - 4 - 1847, tàu chiến Pháp bắn phá các chiến thuyền của triều đình neo đậu trong vịnh Đà Nẵng, làm tê liệt hầu như hoàn toàn lực lượng hải quân của vua Thiệu Trị. Đây là hậu quả, là yếu tố tất nhiên đối với một nước nhược tiểu trước vũ khí hiện đại lúc bấy giờ của hai đế quốc xâm lược.
       Ngày 01 - 9 - 1858, sự kiện đất nước đã chính thức đưa địa thế quan yếu, tài nguyên hấp dẫn, non nước hữu tình, vị trí trung độ của tổ quốc thân yêu này, giao cho  người dân Quảng Nam nói chung, Đà Nẵng nói riêng, một trọng trách vinh quang nhưng cũng muôn vàn gian khó, và đầy thử thách trong sự nghiệp đi đầu chống thực dân Pháp xâm lược.
     Vì sao hoàng đế nước Pháp, Napoléon đệ tam, huấn lệnh cho Thiếu tướng Ri - gôn Đờ gờ - rờ - nuôidi (Rigault De Grenouilly), về sau vị này trở thành Đô đốc hải quân, buộc ông ta “Ngay lập tức phải chiếm cho được vịnh và lãnh thổ Đà Nẵng, làm chủ vị trí này”? Câu trả lời không có gì khó khăn cả. Bởi đây là địa thế chiến lược quan trọng của một tiền cảng, cách đất liền chưa tới 3 cây số. Bởi cảng Đà Nẵng là đầu mối trung tâm tọa độ trên đường hàng hải quốc tế. Bởi sự phong phú hấp dẫn của tài nguyên. Bởi ngọn núi Sơn Trà là bình phong án ngữ gió bão tàu thuyền,  đồng thời là đôi mắt trông ra biển khơi, quan sát và canh giữ vững vàng phía Đông thành phố.
       Sau khi được tin liên quân Pháp và Tây Ban Nha chiếm Đà Nẵng vào ngày đầu tiên của tháng 9 – 1858, Hoàng Giáp tam đăng Phạm Văn Nghị (1805 – 1880) lúc này ông đang ngồi ghế Đốc học Nam Định (tương đương với Giám Đốc Sở Giáo dục ngày nay) “Giận sôi, tóc dựng mũ, bút gát khá thua ai”. Ông liền tập hợp nhiều nhân sĩ  Bắc Kỳ, tổ chức đạo quân 300 người tình nguyện, cấp tốc vào miền Trung đánh giặc. Khi đến Huế thì nghe tin giặc đã lui và đã chuyển quân. Vua Tự Đức (1848 – 1883) chỉ dụ cho ông về lại Nam Định, với lời phê 4 chữ “Tuế hàn tùng bách” – Gặp năm rét mới biết cây tùng, cây bách là cừng cỏi.
      Về sự kiện lịch sử đầy nước mắt ấy, Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị đã để lại cho hậu thế bản tuyệt tác thi ca Trà Sơn quân thứ ( Hành quân vào Trà Sơn). Một khúc văn chương Việt Nam hào hùng yêu nước và cách mạng cận đại:
           Nộ mục Trà Sơn xu lỗ lai
           (Căm thù mắt thấy giặc cướp đánh Trà Sơn)
         …
        
          Như thử giang sơn như thử dân
           Thái bình quốc thế vạn niên xuân
           Nguyễn Văn Huyền dịch:
         (Sĩ dân đó, núi sông đó
           Muôn năm bền vững nước non này)
       Chúng ta có thể hoàn toàn khẳng định rằng, khí thế chống giặc Pháp vào mùa Thu năm 1858 của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng là sự nghiệp thiêng liêng, mở đầu cho sự nghiệp truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng.
     Kiêu hãnh biết bao với Hoàng Giáp Lê Khắc Cẩn, bằng chất giọng hùng tráng, hào khí ngất trời. Giọng thơ dễ làm cho mọi người liên tưởng đến hình ảnh danh tướng Đặng Dung mài kiếm dưới trăng. Lê Khắc Cẩn đem nhập cái nguyên khí đất trời vào gươm, kiếm:
               Phải nên xông ánh sao để làm gươm
               Mượn gió gào để làm súng
               Thường ẩn nấp nơi núi Trà, trên các đỉnh cao
              Ở bể Cần, ngoài các khe vũng
                                         Lã Xuân Mai ( dịch)
    Những bài thơ đã xác lập về thời gian ra đời, đồng thời đã định hình cho sự tồn tại. Nếu như Hoàng Giáp tam đăng Phạm Văn Nghị nộ mục Trà Sơn, Hoàng Giáp Lê Khắc Cẩn xông ánh sao mài gươm., thì với Bảng Nhảng Phạm Thanh lại thể hiện khí thế qua bút pháp dũng mãnh, động viên, khích lệ, nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu:
                Nghe tiếng súng Non Trà nổ dữ
                Những muốn săn cho hết giống lợn dữ không tha
                Trông khói tàu Cần Hài bốc cao
                Những muốn chém cho hết loài cá kình mới hả
                Thẳng tiến để xông pha giết giặc
                Cái chết coi dễ như chơi
Đối với La Hữu Trung lại là nỗi cảm hoài sau khi Pháp rời Sơn Trà để tiến chiếm Vũng Tàu:
              Thuyền Tây khói lửa dọc ngang
               Lui nơi Đà Nẵng lại sang Cần Giờ
               Làm cho trăm họ ngẩn ngơ
              Trụ hương mưa bạt, diềm thờ ngó nghiêng
            
             Đó là những câu tâm huyết đau lòng “ứa” ra sau ngày 11 – 02 - 1859, quân Pháp rời Đà Nẵng, tiến quân đánh chiếm Cần Giờ (Cần Hài), một cảng biển nằm sát Vũng Tàu.
         Mặc dầu bọn giặc đã làm chủ trên đất liền cũng như trên biển vịnh. Nhưng chúng đâu có làm chủ được trái tim và ý chí của nhân dân Đà Nẵng bất khuất. Chúng chỉ nắm cái xác, đâu có nắm được phần hồn. Vườn không, nhà trống, phố hoang, người thưa vắng, đến nỗi làm cho chúng lo sợ, vô cùng ngạc nhiên, sững sốt trước một khoảng chân không khủng khiếp và hoang mang. Dân ta khẳng khái, không bao giờ chịu hợp tác với chúng. Điều này đã minh chứng trong một đoạn báo cáo của Đô Đốc Ri-Gôn Đờ Grờ-Nuôi-di, viết “ Chúng tôi hoàn toàn kiệt quệ. Cho đến lúc này phải bất động tại Đà Nẵng. Mọi phương diện để cải tiến tình trạng bộ binh và hải quân đều hết sạch và vô hiệu, Đất mà chúng tôi chiếm  được hoàn toàn bỏ trống, Dân chúng, nhất là giáo dân không hưởng ứng. Không có dân nổi dậy chống triều đình. Không có dân bất mãn cung cấp tin tức”.
        Tài liệu lưu trữ trong thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại ghi chép lại một sự thật vô cùng bi dát đối với họ: “ Ngay từ những ngày đầu, người Việt Nam đã tạo ra một khoảng trống chung quanh người Pháp, đạo quân con chiên mà Rigault de Grenouilly trông chờ, đã không xuất hiện. Trái lại, không có một con chiên nào dứng trong hàng ngũ Pháp và những lời cam kết cùng hứa hẹn của những người truyền giáo, là sẽ có mặt trong đoàn quân viễn chinh Pháp, đã không được chứng thực tí nào” .

       Tháng 11 – 1858,  nước sông Hàn, sông Nại Hiệp sục sôi, kiêu hãnh trước lòng dũng cảm của quân và dân ta. Các dũng tướng Đào Trí, Nguyễn Duy, Nguyễn Tri Phương, Lê Đình Lý đã hợp tác chiến đấu anh dũng, đẩy lui sức đánh phá của giặc.
      Ngày 22 - 3 - 1860, Pháp rút khỏi Đà Nẵng, quân và dân nơi đây đã dùng tre phên nện đất, chất đá làm thành lũy. Kết xích sắt ngăn sông,
      Tuy nhiên kinh nghiệm chiến trường trên bộ cũng như trên sông nước đối với chúng ta, một dân tộc có truyền thống yêu hoà bình, chuộng tự do, thì làm sao có thể chống trả được giặc trong tình thế cấp bách  trước sức mạnh của những đội quân chuyên đi xâm lăng! Mặc dầu vậy, nhưng vị tướng An Tây trí dũng Nguyễn Tri Phương đã buộc Pháp phải chuyển đổi thế trận theo chiến lược của ông trong cách bố trí quân tài tình. Ông dùng thuyền nhỏ, chia quân thành phân đội. Áp dụng chiến thuật du kích, phản công bất ngờ,  gây bối rối tinh thần quân địch. Chinh phục bằng nhiều gói nhỏ (Conquête en petis paquets), đưa chúng đến chỗ sa lầy.
         Chiến thắng kiên cường và quả cảm của quân dân Đà Nẵng, giặc Pháp đã để lại một tháp hài cốt chứa hàng ngàn thánh giá!
        Về phía ta, hai nghĩa trũng Phước Ninh và Hóa Khuê – những nghĩa trũng đầu tiên của đất nước, được tưởng niệm dựng lên vào năm 1862 theo chỉ dụ của vua Tự Đức (1848 – 1883) – một  chứng tích thiêng liêng trên quê hương yêu dấu.
    Đà Nẵng của không gian xanh nắng, của Non Nước Ngũ Hành Sơn kỳ ảo, của bầu trời khác lạ khi từ Huế - Xứ Mưa buồn, vừa vượt quá Hải Vân. Sự chuyển dịch bất ngờ về thời tiết hai nơi, đã làm cho Tản Đà xúc cảnh;
            Hải Vân đèo lớn vừa qua
           Mưa Xuân thoắt đã đổi ra nắng hè
    Và cái nắng hè ấy, bầu trời xanh binh yên thơ mộng ấy đã bị giặc hóa mây u ám, để tròng vào cổ người dân Đà Nẵng cái ách nô lệ, buộc vào đôi chân sợi xích đi xâu, khóa vào đôi tay mười ngón bòn vàng. Từ đó đã phát sinh nên lời ca dao thống thiết:
             Đứng bên ni Hàn
             Ngó qua bên tê Hà Thân
             Nước xanh như tàu lá
             Đứng bên tê Hà Thân
             Ngó về Hàn, phố xá nghênh ngang
             Kể từ ngày Tây lại, Sứ sang
             Đi xâu, nộp thuế, làm đàng khổ thân

      Hãy lắng sâu tâm hồn bằng nhịp đập trái tim yêu quê hương, bằng những đảo phách ngậm ngùi. Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau bị nô lệ. Ngôn ngữ hình như trở nên bất lực trước sự diễn đạt của tấm lòng xót xa thăm thẳm!   Hình ảnh nước xanh như tàu lá, vẽ ra bức tranh xanh xao, nhợt nhạt, gió xé tơi tàu lá quê nghèo.
     Ngó về Hàn, phố xá nghênh ngang. Ơi con phố ngược ngang gót giặc, mà cùng là con phố đô thị hóa ồn ào. Và kể từ ngày ấy, ngày Tây lại Sứ sang, biết bao nỗi lầm than ụp xuống đầu người dân cơ cực. Hoàn cảnh đã kết thêm những lời dị bản ở câu cuối của bài ca:
         Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
         Dào sông Câu Nhí, bòn vàng Bông Miêu
         Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
         Ở nuôi phụ mẫu, sớm chiều có nhau
Và câu cuối ấy, được chuyển đổi lời ca:
         ( Mưa mai có bạn, mưa chiều có ta)
         ( Trăm năm đi nữa, lá cờ điều cũng đừng phai). Lời thủy chung son sắt
         Ngày 26 – 8 -1945, sau khi Đà Nẵng cướp chính quyền, giành độc lập. Thành phố được vinh dự mang tên nhà yêu nước Thái Phiên. Nhưng rồi chúng ta lại phải đương đầu với bọn thực dân tái chiếm quê hương:
            Thành Thái Phiên đắm mình trong máu lửa
             Đất anh hùng lần nữa quyết hy sunh
                                                                                                              (Tế Hanh)
       Những năm 1946 – 1947, tinh thần chiến đấu chống đế quốc Pháp xâm lược của quân – dân Đà Nẵng đã cuộn vào dòng thác lũ cả nước đồng tâm đứng dậy diệt thù. Những trận dánh địch dọc theo phía Nam sông Cẩm Lệ, phá cầu Thủy Tú, ngăn chận bước tiến quân dịch. Tự vệ dùng bom phá sập nhà máy đèn. Bộ đội ta suốt một ngày quần nhau với giặc tại cổ viện Chàm. Nơi bốt đội Cang, say men chiến đấu. Quân Pháp hoảng kinh, chạy trốn vào chùa Phật học.
      Các ngày 20 và 21 - 12 – 1946, bộ đội liên kết với dân quân tự vệ Đà Nẵng, Hòa Vang hợp tác chiến đấu đánh địch tại chợ Mới
      Từ ngày 23 - 12 - 1946 đến ngày 07 – 01 – 1947, Pháp đánh ra ngã tư Yên Khê, gặp phải sự kháng cự dũng mãnh và quyết liệt  của tiểu đoàn 19. Địch bị đẩy lui.
       Cuối tháng 12 năm ấy, tại bến đò Xu, tiểu đoàn 101, trung đoàn 93 đã cho hằng 100 tên lính Pháp về chầu Hà bá. Ngày 07 – 01 – 1947, quân giặc tại cấm Hòa Mỹ bị ta đánh tan. Tại Đa Phước, chúng bị đẩy ngược. Những cuộc “tổng nhiểu loạn” gây cho Pháp hoang mang, lo sợ. Pháo của ta từ bến đò Xu nã vào vị trí địch. Mìn của ta đặt trên đầu máy xe lửa, mở máy chạy thẳng vô sân bay. Chúng hoảng hốt. Ôi! Những trận đánh ngoạn mục.
        Trước chiến thắng hào hùng của quân và dân Đà Nẵng. Xuất sắc, kiên dũng ngay từ những ngày đầu kháng chiến. Sự mưu trí và dũng lược ấy, đã được Phạm Văn Đồng,  đại diện Trung Ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ, tặng lá cờ “giữ vững”. Trong đó có lời khen :” So với toàn quốc, mặt trận Đà Nẵng được liệt vào hàng đánh mạnh nhất và dẽo dai nhất”
       Sách Lịch sử Việt Nam 1897 – 1918, Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 1999, chúng ta cùng lật ra trang 360, dọc những lời nhận xét của nhà sử học người Pháp, Jean Chessaux, viết năm 1955 :”Hạm đội Pháp tới thả neo trước cửa biển Dà Nẵng hôm 31 – 8 - 1858, không phải là nó tới Việt Nam để thực hiện một sứ mạng lịch sử nào cả. Trái hẵn lại, nó đã cắt đoạn những khả năng thực tế phát triển tự thân có sẵn trong dân tộc Việt Nam. Nó sẽ làm chậm lại sự tiến triển, chớ không phải là thúc đẩy dân tộc Việt Nam tiến nhanh hơn” Những lời nhận xét khách quan và trung thực của một sử gia tên tuổi.
       Hơn một thế kỷ sau, hay nói một cách chính xác, sau 107 năm (1858 – 1965), kể từ  ngày 01 - 9 - 1858. Ngày 03 - 8 - 1965, nhân dân Đà Nẵng, thêm một lần nữa, lại phải đối mặt với những thách thức mới. Tiểu đoàn 3, lữ đoàn 9 Thủy quân lục chiến Mỹ, lần đầu tiên đưa quân đến Dà Nẵng, gây thành một cuộc chiến tranh xâm lược cục bộ. Từng bước leo thang đánh phá miền Bắc.
    Anh Huỳnh Ngọc Anh, sau này cải danh thành Huỳnh Trung Việt, để che dấu lý lịch hoạt động cách mạng ở nội thành Đà Nẵng. Hiện nay anh đang sống tại xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa), nhớ thật rõ:  “Để tiến tới kỷ niệm 5 năm, ngày thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (1960 - 1965). Tháng 12 – 1965, đại diện lực lượng Thanh niên – sinh viên – học sinh Đà Nẵng, đã họp tại nhà ông Phan Liêu, ngõ kiệt số 9, đường Hoàng Diệu. Các thành viên gồm có: Hồ Ngọc Ninh, quyền bí thư thành đoàn. Hồ Duy Lệ ( cựu chủ tịch Hội Văn Học Nghệ Thuật tỉnh Quảng Nam, đã nghỉ hưu). Phan Hoàng ( Hoàng Liêu ) hy sinh năm 1972…Anh Khâm, anh Linh…Họp nhau bàn luận phương kế đấu tranh,  tuyên truyền, phân phát những tờ rơi dưới hình thức quay rô-nê-ô”.                    
       Tại bãi biển Thanh Bình, học sinh kết chuối cây làm bè. Cắm cờ giải phóng, treo biểu ngữ chống lại nhà cầm quyền. Quân đội Mỹ và lính công binh của Nguyễn Văn Thiệu tại Đà Nẵng, cho xe thiết giáp ầm ầm kéo xuống, tháo gỡ. Việc làm ấy đã góp một phần nhỏ mở ra cho hành động xuống đường.
      Năm 1966, là người được dự chứng sự nổi dậy của đồng bào, sinh viên và học sinh làm chủ thành phố Đà Nẵng ruột thịt trong hai tháng rưởi, hưởng ứng phong trào khởi xướng của tướng Nguyễn Chánh Thi, phản kháng sự điều hành đất nước của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Binh lính và cảnh sát trung thành với chế độ, luôn luôn trong tình trạng đối phó. Đạn súng lên nòng, đầu đội nón sắt, lưng thắt dây nịt xanh - tuya - rông (cinturon) dắt quanh đầy lựu đạn. Chúng kiểm tra tuần hành các ngỏ phố, bưu điện, dọc bờ sông. Vậy mà nhân dân Đà Năng vẫn làm chủ thành phố trong suốt 76 ngày đêm náo nức.
       Những sự kiện đã tạo cho con người Đà Nẵng một phẩm chất cao quý, ưu việt cần thiết để chống lại mọi thù địch. Người dân luôn luôn ý thức sinh động về sự hiện hữu và trách nhiệm chính bản thân với Đà Nẵng thân yêu.
       Đúng 10 năm sau cuộc đỗ bộ của quân đội Mỹ lên thành phố Đà Nẵng.  Ngày 29 - 3 -1975, ngày đánh dấu trang lịch sử hào hùng, rực rỡ. Toàn quân, toàn dân thành phố Đà Nẵng đã kết nên vòng hoa chiến thắng kiêu hãnh, giải phóng hoàn toàn biển – phố thân yêu. Một nét son của cuộc hành trình dân tộc muôn đời. Về đỉnh cao vinh quang này, nhà thơ Lữ Huy Nguyên (1939 – 1998) đã nối thành dòng chảy hào hùng. xuyên suốt 120 câu phối cảm. Khổ giữa của bài thơ “ Ngực thành phố  - Trái tim và ngực thở”, vang lên lời hào sảng:
               Đà Nẵng ơi!
              Hơn thế kỷ qua đi
             Những năm tháng triền miên ngạt thở
             Từ chiến hạm Cô – sanh – sin
             Ngút trời đạn nổ
          “Trà Sơn rách mắt giặc Tây tràn”
 
     Đà Nẵng là một trong những nơi được đô thị hóa sớm nhất trong cả nước. Năm 1898, thành phố được xếp loại 2, cùng với Chợ Lớn, dứng sau Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng.
        Tháng 10 – 1975, tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng hợp nhất với tên gọi Quảng Nam – Đà Nẵng.
       Danh xưng về một giải đất gắn liền như hai anh em trong một nhà. Và khi hai anh em đã trưởng thành, có thể vững vàng tự lập. Đó chính là thời gian bắt đầu cho hai anh em ruột thịt tách riêng trong một dại gia đình tổ quốc. Ngày 01 – 01 – 1977, thành phố Đà Nẵng được chính thức trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung Uơng.  Tỉnh Quảng Nam từng bước củng cố, xây dựng, dần dần thăng tiến, và Đà Nẵng vươn đôi cánh rộng tiềm năng, luôn luôn phát triển để xứng đáng với vị trí địa lý – lịch sử - tiền cảng quan trọng, kiên cường với thế đứng vững bền của trung tâm đất nước Việt Nam muôn đời.
     Ngày 17 - 7 - 2003, thành phố Đà Nẵng được chính phủ công nhận là đô thị loại I .
      Sáu năm sau ngày đăng quang ấy, Đà Nẵng luôn luôn thể hiện tính ưu việt vốn có, tính năng động  của một nền văn hóa không bao giờ tĩnh tại – một nền văn hóa chiến thắng kiên trung. Tháng 7 – 2009, những đức tính quý báu ấy đã nối nhịp kỳ diệu chiếc cầu treo dây võng 2000 mét bắc qua sông Hàn. Chiếc cầu thẫm mỹ hiện đại dài nhất Việt Nam, nối Hải Châu với bán đảo Sơn Trà. Chiếc cầu khúc xạ hai ngọn nước giao thoa mặn ngọt. Biển và sông hợp lưu con nước thủy chung. Chiếc cầu dây võng thênh thang 18 thước, xuôi ngược hai lằn xe, dã tạo ra cho thành phố một thế nhìn đối diện với biển bao la.
       Dòng văn hóa không bao giờ tĩnh tại – luôn luôn tiếp biến. Nền văn hóa của chiến thắng. Vị trí địa lý – lich sử như vậy. Địa linh sinh nhân kiệt, sẽ tất yếu sinh ra những con người Quảng Nam – Đà Nẵng như vậy, trong mọi thời đại.
             
Tài liệu tham khảo

         Lịch sử Việt Nam 1897 – 1918, Nhà xuất bản Hà Nội, năm 1999
        Anamach – Những sự kiện lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999
       -Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 – 1975, Viện lịch sử Hà Nội, 1992
        -Tìm hiểu con người Xứ Quảng, Nguyên Ngọc (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, 2005.
        - Huỳnh Thúc Kháng – con người và thơ văn. Nguyễn Q. Thắng, Nxb Văn học, năm        2001.
        - Văn học Dân gian Quảng Nam, Nguyễn Văn Bổn – Sở VHTT Quảng Nam, 2001.

        - Văn Nghệ Dân Gian Đất Quảng, số Xuân Ất Dậu. Hội VNDG Đà Nẵng.

Gia tộc

Cử sự
 
 

Gia tộc là tổ chức một họ, họ hàng. Thường, họ hàng quây quần nhau sống trong một xóm. Một gia tộc tại Quảng Nam ít có trường hợp sống riêng lẻ mà tập trung trong một làng, cộng hưởng nhau. Từ đó thắt chặt thêm tình họ hàng.
Trong một làng có nhiều gia tộc sinh sống, họ chung tay nhau xây dựng làng ngày càng phát triển. Chính đó, cho thấy từ thời Lê đến nay làng bộ trên đất Quảng phát triển không ngừng, ngày càng có quy cũ. Từ đó tạo ra các hương ước, khoán ước, các lệ của làng nhằm ổn định, giữ vững các định chế đối với cuộc sống tinh thần và làm giàu thêm đời sống vật chất. Việc tạo ra các thiết chế văn hoá hay các bản khoán ước cũng là tập tục, là thói quen của một địa phương trong cách ứng xử theo hương ước. Nhờ đó, nền nếp trong làng được giữ vững. Gia tộc do đó có ảnh hưởng từ nếp làng. Tộc họ trong làng thường thiết lập hội đồng gia tộc, tức một tổ chức của một tộc, hội đồng quy định chặt chẽ những việc nên làm, những điều nên tránh, phân công công việc gia tộc theo thứ bậc trong họ hàng. Gọi chung là Quy ước của Hội đồng gia tộc. Quy ước được viết thành văn, mỗi phái, chi giữ một bản để thực hiện và lưu giữ chuyện của tộc. Mỗi hội đồng gia tộc có tộc trưởng và những người giúp việc trong những lúc tộc họ có việc như việc tang, việc cưới hoặc lễ tảo mộ hàng năm của gia tộc. Theo đó, con cháu trong gia tộc đều tuân thủ thực hiện, tạo nên nền nếp trên thuận dưới hoà, kính trên nhường dưới. Đạo đức của gia tộc theo đó được răn dạy đến từng cá nhân trong họ hàng, tạo điều kiện cho các thành viên trong gia tộc chăm lo đèn sách, canh cửi chuyên cần, xây dựng cuộc sống có nền nếp gia phong tốt đẹp.
 Xưa kia làng Phong Lệ có nhiều chư phái tộc, họ sống đoàn kết nhau trong làng, có luỹ tre bao bọc. Hằng năm đến kỳ tế tự tiền hiền trong bài văn tế đọc tại nhà thờ làng có ghi đủ 13 chư phái tộc: Tứ Lê, ngũ Ngô tịnh Phùng, Ông, Nguyễn, Võ. Về sau có thêm các gia tộc khác đến định cư tại làng lại ghi thêm vào trong văn tế: Trần nhị, Phan Bùi. Từ đó làng lại cử ra Hội đồng chư phái tộc do các thành viên của 17 chư phái tộc mà thành. Hội đồng chư phái tộc lo việc tế tự của làng, hằng năm có các lễ hội kỳ yên, kỳ phước, lễ hội rước mục đồng, lễ hội đấu vật, lễ hội rước hến…đều do Hội đồng chư phái tộc cắt cử người lo liệu.
            Hoặc Hải Châu ngũ xã có 16 chư phái tộc tập trung thờ tự tại Hải Châu đình. Đến ngày xuân kỳ thu tế, Hội đồng chư phái tộc vận động các gia tộc tham gia vật chất và tinh thần cho ngày hội kỵ. Tại huyện Điện Bàn, làng La Qua xưa nay có nhiều gia tộc cùng nhau sinh sống, chung tay xây dựng nên làng La Qua phát triển cả về vật chất lẫn tinh thần. Hay như các làng Đông Bàn, Giáng La, Lệ Sơn, Phiếm Ái, Tuý Loan, Quảng Huế, Lai Nghi, Bích Trâm, Chiêm Sơn, Mạc Xuyên, Cẩm Lệ, Lỗ Gián Thạc Gián, Hoá Khuê…[1] mỗi làng đều có nhiều gia tộc cùng sinh sống và phát triển. Do mỗi làng có khoán ước riêng như làng Phước Sơn Ngũ xã (Hoà Vang) nên phong tục mỗi làng có những thành tố riêng. Đó là lệ riêng của mỗi làng. Chính điều này tạo nên nền nếp cho làng và thành ngữ “Phép vua thua lệ làng” là những trường hợp như thế. Hương ước, khoán ước vẫn còn lưu giữ khá rõ nét trong tâm thức của người dân, cũng như được lưu giữ một cách cẩn thận trong các đình làng cổ. Tại Hoà Vang, một số hương ước, khoán ước (thời Thiệu Trị tại làng Quan Nam – xã Hoà Liên), làng Hoà An (phường Hoà An hiện nay)… Những hương ước, khoán ước tại đây đều có chung một điểm là: “cấm say sưa bợm bãi”, “cấm chặt trộm cây gỗ trong những nơi thờ thần thiêng liêng”, “cấm chặt trộm tre và cắt trộm măng”, bài trừ hủ tục, khuyên mọi nhà “chăm nghề nghiệp”, “giữ nghề nông”, “chấn chỉnh nghề thợ, nghề buôn”, nghiêm cấm việc lấn chiếm ruộng đất công, phạt nặng những trường hợp làm sạt lở đê điều, làm tắc nghẽn sông ngòi, ao hồ... Vì thế, nên sẽ không lạ nếu thấy giữa làng Quan Nam xưa hiện vẫn còn một mảng rừng với cây cối sum sê xanh tốt được nhân dân nơi đây hết lòng gìn giữ; hay các cụ cao niên làng Hoà An vẫn thuộc nằm lòng qui định cấm nạn ăn uống trong các đám tang[2]. Bản khoán ước tại làng Phước Sơn, xã Hoà Nhơn (Hoà Vang) ra đời năm Gia Long thứ 7 (1808) – có lẽ là khoán ước cổ nhất và đầy đủ nhất cho tới lúc này được tìm thấy tại Đà Nẵng. Khoán ước này gồm 10 điều, nêu rõ trách nhiệm của dân làng trong việc gìn giữ lễ nghi, phép tắc, thuần phong mỹ tục của làng đồng thời chỉ rõ “những điều không được làm” như các hương ước, khoán ước thường thấy.10 quy định về việc cúng tế ở đình làng, về mừng thọ lên lão, về cưới hỏi lấy vợ, lấy chồng của trai gái trong làng, về sưu tương thân tương ái, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, về khuyên răn làm những điều tốt, không trộm cắp, không phá của cải, tài sản chung của làng…Mở đầu bản khoán ước có ghi: “Chúng tôi là những viên chức lớn nhỏ trong xã, thuộc xã Phước Sơn, tổng Phước Tường thượng, huyện Hoà Vang, phủ Điện Bàn. Nay lập đồng ưng định cử ông cựu cai tên Đàm lên làm chức trùm cả để chăm sóc các việc trong đình, chùa, sắp đặt lễ cúng và cứ theo khoán lệ khu xử những việc đúng sai trong xã, giữ gìn bờ cõi thuộc đại phận của xã. Từ nay những nam. phụ, lão ấu trong xã và những người ngụ cư, nhóm họp tại đình, tưởng niệm các bậc tiền hiền đều phải giữ đúng phép tắc hợp với thuần phong, trên thuận dưới hoà, để giữ lấy danh dự với các làng lân cận. Từ nay về sau con cháu trong làng đều phải tuân theo những điều mà trước đã vạch sẵn”. Và, bản khoán ước cũng chỉ rõ việc xử phạt khi các thành viên trong làng không chấp hành như: “Những viên chức nào trong xã không dựa theo lệ khoán của các bậc tiền hiền và làm trái lại những điều đã định ước trong tờ ưng định này lại có những lời phán ngôn ngang bướng thì phải chịu phát vạ một heo và cả trầu rượu dùng đủ, để làm sáng rõ nghi tắc của các bậc tiền hiền, để nêu gương cho những lớp trẻ sau này, ngõ hầu giữ được sự phát triển của làng”.
        Ngay từ lời mở đầu bản khoán ước đã ghi rõ trách nhiệm của con cháu – các thành viên trong làng phải biết gìn giữ lễ nghi, phép tắc thuần phong mỹ tục của làng mà các bậc tiền hiền khi đến khai canh, khai cư lập làng đã đề ra và một khi ai đó không chấp hành, không thực hiện đúng thì sẽ phải chịu phạt trước dân làng. Trong 10 điều khoán ước có những điều ghi về tinh thần tương thân, tương ái như: Dựa theo khoán lệ của tiền nhân thì trên đời này có kẻ giàu, người nghèo không giống nhau, nên phải giúp nhau mới phải”, hay: Dựa theo lệ định của tiền nhân, trong làng có người quá cố mà con cháu trong nhà muốn tỏ lòng hiếu thảo, hoặc có lễ tạ khi tống táng xong, việc ấy tuỳ theo khả năng của gia chủ, bất luận ít nhiều. Khi có đám tang gia chủ phải trình xã trưởng để cắt người trợ táng hoặc trợ tế”.  Bản khoán cũng nói về việc gìn giữ, cấm phá tài sản chung của làng như: Dựa theo phép tắc của quan trên, măng tre mới nhú lên cần phải được bảo vệ, để dùng vào những việc có ích sau này. Điều này đã có giấy tờ cấm ngặt từ trước, nghĩa là cấm không được cắt măng tre. Nếu ai còn phạm vào điều cấm ấy, cắt trộm măng tre khi bị bắt phải nộp lệ khoán một quan, một tiền và thu thêm 5 tiền để thưởng cho người bắt được”. [3] Chính đó, đã tạo nên ý thức trong nhân dân không xén măng tre của nhau, nếu xén trộm thường bị người khác khinh rẻ, bản thân người xén măng cảm thấy làm một việc phương hại đến mầm sống, huỷ hoại một nguồn sinh lực đang lớn dần lên, cũng có thể hối hận. Trong dân gian xem đó là mang tội, làm như thế là mang ác.



[1] Đến năm 1553 theo Ô Châu cận lục của Dương Văn An, phủ Điện Bàn có 66 làng.
[2] Phần phụ bản của Khoán ước làng Hoà An có bài nhắc nhở người dân thực hiện khoán ước có câu: “Người chết nằm đó than khóc thảm thương, nước mắt đầm đìa. Thân tình chi, hiếu thảo chi? nhởn nhơ nhai thịt mỡ đùi gà, bưng bát rượu khề khà chè chén… Ôi thôi! đừng giữ thói tệ lậu thời nào, nghe hôi tanh rủ đến như ruồi!”…
[3] Tuy nhiên, bản khoán ước cũng có mặt hạn chế như “Người con gái phải đúng 14 tuổi trở lên mới được gả chồng” và phải “giữ đúng 6 lễ từ vấn danh đến lễ cưới”, tuổi lấy chồng của người con gái quy định như vậy còn quá sớm. Hiện nay, theo Luật Hôn nhân và Gia đình của chúng ta là nữ phải đủ 18 tuổi trở lên thì mới lập gia đình.

Về sự kế thừa trong văn hóa nghệ thuật

Trần Đình Sanh
 
 
 
Sự kế thừa được trình bày sau đây, xin được lạm bàn về hình thức nghệ thuật cổ truyền mang tính dân gian cùng tồn tại đồng hành với văn hóa nghệ thuật đương đại.

            Có thể khẳng định rằng trong hợp quần nhân loại dù một tộc người được cho là có số lượng ít nhân khẩu, dù với trình độ thế nào cũng đều sáng tạo ra hình thức nghệ thuật mang đặc trưng riêng có của họ - cái mà ngày nay các nhà nghiên cứu gọi là bản sắc văn hóa dân tộc. Chiếc đàn bầu của người Kinh, đàn Tơ-rưng của các dân tộc lâu đời ở Tây Nguyên,… và ngay cả những công cụ nhạc khí nghệ thuật mới nhìn tưởng chừng không phân biệt được, nhưng thực ra khi thể hiện nghệ thuật thì mỗi nhạc cụ đều có đặc trưng riêng của nó, như trống của dân tộc Kinh sử dụng trong các dịp lễ hội khác với trống của dân tộc Chăm. Cũng vậy, chiêng và cồng của các dân tộc Tây Nguyên rất khác chiêng và cồng của dân tộc Mường. Các mẫu hình thổ cẩm của các dân tộc Tây Nguyên rất khác với mẫu hình thổ cẩm của đồng bào Thái, đồng bào Dao vùng Tây Bắc,…
            Các hình thức nghệ thuật như tuồng, chèo, cải lương, hát ví, hát dặm, hát ru, hát hội,… vẫn là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn con người. Kế thừa các loại hình, loại thể này để xây dựng nền văn hóa nghệ thuật dân tộc hiện đại là vấn đề phức tạp và rất khó khăn. Ví như trong lĩnh vực sân khấu chèo chẳng hạn. Theo Trần Việt Ngữ: “Khi nhà hát chèo Trung ương kiên trì thí nghiệm hát Trưng Trắc (đề tài lịch sử), Xơ Kumtơla (truyện cổ Ấn Độ) đến Cô gái và anh đô vật (đề tài đương đại) mà vẫn chưa lôi kéo khán giả đông đảo thì đoàn chèo Hà Nội cũng thử thách hát Bên dòng Như Nguyệt (đề tài lịch sử) đến Hương đồng gió nội (đề tài đương đại) mà khách xem vẫn chưa tỏ ý mặn mà. Đoàn chèo Hà Sơn Bình hết sức nóng lòng khi thấy số người xem ngày càng sút kém, qua các vở dàn dựng nghiêm túc, khai thác đề tài mới: Sau tường thành, Tiếng hát bên non Tản,…” [[1]] Trong lĩnh vực sáng tạo, kế thừa giá trị nghệ thuật truyền thống của tuồng cũng rất công phu, phức tạp. Ý kiến sau đây một phần chỉ ra sự phức tạp công phu đó: “Chúng ta đều hiểu nghệ thuật đồng nghĩa với sáng tạo, nếu không sáng tạo thì dậm chân tại chỗ. Người xem mới đòi hỏi sân khấu tuồng phải có những hình thức mới về mặt tạo hình, về màu sắc, về tiết tấu, về cách xử lý không gian và thời gian trên sân khấu. Nhưng cái mới ở đây phải trên cơ sở cái truyền thống, phải là tuồng chứ không phải là kịch, là chèo,… tức là không gieo vừng ra ngô” [[2]].
            Điều đó cũng khó khăn tương tự như đối với việc kế thừa các hình thức nghệ thuật khác, trong các loại hình khác như kiến trúc, hội hoa, điêu khắc, âm nhạc, văn chương,… Nhưng đó là một thử thách phải vượt qua vì không kế thừa và phát triển các hình thức nghệ thuật độc đáo này chúng ta không thể xây dựng được một nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc.
            Trong nghiên cứu vấn đề kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống để xây dựng và phát triển văn hóa nghệ thuật dân tộc không thể không đề cập đến những giá trị nghệ thuật gắn liền với tôn giáo và lễ hội.
            Đối với những giá trị nghệ thuật gắn liền với tôn giáo, đây là vấn đề khó và phức tạp. Có thể nói lịch sử văn hóa nghệ thuật nhân loại từ xưa đến nay có nhiều liên hệ với tôn giáo. Một mặt, các quan niệm tôn giáo ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động sáng tạo nghệ thuật của nghệ sỹ. Mặt khác, nhiều biểu hiện của nghệ thuật cũng đã thâm nhập vào mọi cấp độ ý thức tôn giáo như nghệ thuật biểu diễn sân khấu trong Ki tô giáo, nghệ thuật trang trí trong Phật giáo hay như nghệ thuật tạc tượng trong Ki tô giáo, Phật giáo,…
            Về mặt giá trị, vấn đề giá trị của tồn tại nhân loại, khúc xạ vào tôn giáo và nghệ thuật, thông qua ý thức vô tư, tôn giáo và nghệ thuật có những xu hướng rất khác nhau. Mọi tôn giáo đều truyền bá tư tưởng phụng sự vô tư cho thần thánh, khơi gợi mọi sự đồng cảm, sự tham gia với thế giới thần linh. Nghệ thuật cũng hướng tới lòng trắc ẩn, đồng cảm cũng là một cách tham gia của con người vào sự thực tại ấy một cách vô tư. Nhưng ý thức vô tư trong nghệ thuật là nhằm mục đích khẳng định sự thực tại của nhân loại như một thực thể, một thế giới có thật, là kết quả tất yếu của lịch sử tự nhiên. Cho nên, nếu nghệ thuật hướng tới mục đích sự hoàn thiện, hướng tới cái cao cả và hướng tới khám phá bí mật của chính con người, thì tôn giáo hướng tới thần bí hóa chính sự cao cả của con người và thần bí hóa những bí mật ấy quy cái quyền khám phá ấy cho các thần linh.
            Như vậy, cả nghệ thuật và tôn giáo cùng đều liên hệ tới con người. Nghệ thuật có xu hướng khám phá bí mật của sự tồn tại trần thế của con người trong tính toàn diện phức tạp của nó. Lịch sử đã chứng minh, nghệ thuật chân chính không ngừng xây dựng hình tượng con người hoàn thiện một cách cụ thể, lịch sử. Nhờ vậy, nó tác động đến toàn bộ đời sống xã hội, giúp vào việc nhân tính hóa các quan hệ xã hội. Tôn giáo có xu hướng giải thích tính nhân bản của nghệ thuật, nhưng nó quy sự phát sinh, phát triển nhân tính của con người lại đã được phản ảnh trong sự giải thích của tôn giáo. Nghệ thuật không ngừng phát triển nội dung và hình thức phản ánh. Còn tôn giáo thì cố khuôn sự phát triển ấy của nghệ thuật sao cho phù hợp được với thế giới quan tôn giáo.
            Vì vậy, là nghệ thuật, nghệ thuật trong tôn giáo luôn luôn mang trong mình một cái gì lớn lao hơn ý nghĩa tôn giáo. Chúng phản ánh những mặt cốt yếu của tồn tại một lịch sử, một dân tộc, một đất nước. Những hình tượng nghệ thuật có giá trị cao bao giờ cũng đa nghĩa, đa chức năng, vì chúng phản ánh thế giới một cách toàn diện.
            Tác phẩm nghệ thuật còn đem lại cho con người cảm giác hạnh phúc. Nghệ sỹ với tư cách là một tài năng sáng tạo độc đáo đã phát hiện cuộc sống với hình thức cảm xúc thẩm mỹ về sự phong phú của đời sống thực tế, khiến con người khi thưởng thức nghệ thuật tôn giáo đã quay về thế giới thực tại, giúp họ hiểu và cảm thụ sâu sắc hơn về thế giới thực tại. Những tượng Phật vẫn thể hiện khát vọng của nghệ sỹ muốn tái hiện con người và cuộc sống thực. Hình tượng Đức Mẹ vẫn là bài ca về tình mẫu tử. Điều này khiến cho các hình tượng như các vị La Hán, Quan Âm Thị Kính, Thánh Mẫu, Đức Mẹ Maria,… của tôn giáo thâm nhập vào hoạt động của các nghệ sỹ tài năng sẽ tạo nên những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, gần gũi con người, giàu chất nhân sinh và đậm đà tính nhân bản. Bởi vậy, những giá trị nghệ thuật của tôn giáo vẫn luôn khơi dậy trong các thế hệ niềm khát vọng cháy bỏng của chính cuộc sống con người. Dấu ấn của thời đại trong các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo sẽ giúp các thế hệ hiểu hơn cuộc sống của cha ông. Tính nhân loại, tính dân tộc hòa quyện trong những giá trị ấy là một trong những cái vốn, cái tiềm năng để các thế hệ nối tiếp nhau vận dụng và sáng tạo. Huy Cận đã dạt dào xúc động trước các vị La Hán chùa Tây Phương, Nguyễn Tư Nghiêm với những con rồng truyền thống đã làm cho “người xem thấy trong tranh ấy xôn xao âm điệu đình làng, thấy bảng lảng một đám mây như từ nghệ thuật Đông Sơn, Đinh, Lý, Trần, Lê tụ về,… Thấy toát lên từ tác phẩm của ông một sức lay động dân tộc mà không nệ cổ, hiện đại mà không lại căng” [[3]].
            Đối với những giá trị nghệ thuật gắn liền với lễ hội, đây là những giá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội cổ truyền đáp ứng những nhu cầu muôn thưở của con người tất cả các thời đại. Thứ nhất, lễ hội bao giờ cũng là một cộng đồng người biểu dương những giá trị văn hóa và sức mạnh của cộng đồng, tạo nên tính cố kết của cộng đồng. Những lễ hội như: Đền Hùng, Kiếp Bạc,… mang tính cố kết cộng đồng cả dân tộc, trở thành truyền thống ăn sâu vào tâm linh con người Việt Nam. Thứ hai, tất cả mọi lễ hội đều mang trong nó bản chất hướng về cội nguồn. Đó là cội nguồn tự nhiên mà con người là một bộ phận cội nguồn của dân tộc, của đất nước, của làng bản, của tổ tiên,… Nhu cầu hướng về cội nguồn là nhu cầu vĩnh hằng của con người mọi thời đại. Chính vì vậy, lễ hội mang tính nhân bản sâu sắc. Thứ ba, trong lễ hội con người gắn bó với nhau, chan hòa nhau, cho nên lễ hội bao giờ cũng tiềm ẩn tính dân chủ. Đến với lễ hội là tự nguyện, là thành kính, là sự giao cảm với thiên nhiên và văn hóa của cộng đồng.
            Cũng có nhiều nhà nghiên cứu nói tới lễ hội cổ truyền như là thời điểm mạnh, là cái mốc giữa sự diệt vong và tái sinh, là cuộc đời thứ hai bên cạnh cuộc sống hiện hữu. Đó là trạng thái thăng hoa từ đời sống hiện thực, là đời sống tâm linh bên cạnh đời sống vật chất và tinh thần [[4]].
            Vấn đề cần quan tâm nhất là lễ hội như bảo tàng sống của nền văn hóa văn nghệ dân gian. Các làn điệu dân ca thống nhất giữa ca nhạc và vũ đạo, các công cụ nghệ thuật từ nhạc cụ đến y phục, đến dụng cụ trang hoàng lễ tế,... được huy động và tập hợp thành những hệ thống, thành những bài bản để thực thi kịch bản lễ hội. Bởi vậy, có thể tìm thấy trong lễ hội những giá trị đích thực của văn hóa dân tộc, từ đó để nghiên cứu về văn hóa dân tộc và kế thừa trong sáng tạo.

            Quá trình xây dựng nền văn hóa nghệ thuật mới đã và sẽ diễn ra rất phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng không thể không đề cập đến một vấn đề có tính quy luật là kế thừa những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc để nhằm xây dựng một nền văn hóa nghệ thuật dân tộc tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, từ đó làm cho truyền thống văn hóa dân tộc tiếp tục được nâng cao, phát triển.
            Sáng tạo ra truyền thống là sự nghiệp của cả cộng đồng, của nhiều thế hệ, nhưng ở thời điểm nào cũng vậy, ở dân tộc nào cũng vậy, trong vấn đề này các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hóa đã để lại những dấu ấn sâu đậm, rõ nét, tạo thành các nấc thang cho các thế hệ tiếp tục sáng tạo, nối tiếp đi lên.



[1] Tìm về bản chất của văn hóa, T/c Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật. HN, 1993. Tr 444.
[2] Tlđd. Tr 461.
[3] Từ hình tượng con rồng suy nghĩ về sự tiếp nối truyền thống và hiện đại, Trương Duy Bích, T/cVăn nghệ dân gian, 1/1986.
[4] Xem: Lễ hội truyền thống trong đời sống hiện đại, Ngô Đức Thịnh, NXB. VHNT, Hn, 1993. Tr 289.

Tín ngưỡng thờ môn thần của người Hoa ở Hội An

Võ Văn Hoàng
Nguyễn Thái Hòa
 
1. Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ Môn thần
Theo các học giả Trung Quốc, khởi nguyên của tín ngưỡng thờ Môn thần bắt nguồn từ quan niệm sùng bái tự nhiên và quan niệm tín ngưỡng thần linh của con người thời kỳ nguyên thủy. Vào thời kỳ này, con người chủ yếu cư ngụ trong các hang động tự nhiên. Khi xã hội phát triển cao hơn, họ mới dần dần học được kỹ thuật dựng nên nhà cửa. Từ đây, ngôi nhà và con người có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Bởi ngôi nhà là nơi có thể phòng ngừa được thú hoang và địch hại, cũng là nơi có thể che mưa che gió, cất giữ thực phẩm và tài sản... Cảm kích vì tác dụng to lớn này, mà trong tâm tưởng con người đã hình thành nên một vị thần của ngôi nhà (trong đó có Cửa) để cúng tế nhằm báo đáp ân đức. Đây chính là nguồn gốc đầu tiên của tín ngưỡng thờ Môn thần.
Ngoài ra, nguồn gốc của tín ngưỡng này còn bắt nguồn từ việc sùng bái ma quỷ của thời kỳ cổ đại. Do thời kỳ này, nhận thức của con người về tự nhiên còn nhiều hạn chế, vì vậy mà quan niệm về ma quỷ rất thịnh hành, mỗi khi có hiện tượng tự nhiên là gió, mưa, tuyết, sấm, sét..., họ đều cho là do quỷ thần tạo ra; có côn trùng, rắn, mãnh thú xông đến, họ cũng cho là do quỷ thần phái đến nên rất kính sợ. Mặc dù vào lúc này, con người đã dựng nên nhà cửa, nhưng họ vẫn cảm thấy sợ hãi, bất an. Bởi ngôi nhà không thể ngăn chặn được những ma quỷ có phép thần thông quảng đại. Do đó, cần phải có một vị thần minh nào đó có khả năng thuần ma phục quỷ, đến và thay gia đình canh phòng đứng gác tất sẽ tốt hơn. Và sự xuất hiện của Môn thần sẽ là vị thần thích hợp hơn cả. Trong Bạch mao nữ có câu hát: “Môn thần, Môn thần cưỡi ngựa hồng, đứng ở cửa bảo hộ gia đình; Môn thần, Môn thần đánh đại đao, quỷ lớn quỷ nhỏ không dám đến”1, chính là phản ánh chân thực của tâm lý này. Môn thần giúp con người bớt đi nổi sợ hãi trước ma quỷ, không những giúp con người ổn định cuộc sống mà còn vững tin vào một tương lai tốt đẹp.
Dưới thời Xuân Thu, Lỗ Ban đã sáng chế ra chiếc vòng cửa hình con ốc, về sau được đổi thành hình của các mãnh thú, đầu quái thú, lắp trên các cánh cửa ra vào nhằm ngụ ý bảo vệ không gian bên trong của ngôi nhà. Qua các đợt khai quật khảo cổ học ở Thiểm Tây (Trung Quốc), các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bức phù điêu thời Đông Hán có trang trí đầu quái thú thể hiện thành ba lớp: lớp trên là hình của Chu Tước đang sải cánh bay; lớp giữa là đầu quái thú ngậm chiếc vòng thiếc; còn bên dưới là rồng hổ điêu hoặc mãnh thú tựa hình tê giác. Người ta cho rằng, Chu Tước là loài chim khỏe, đẹp, có thể bắt mãnh thú, hổ, sói, khiến cho tà ma không dám làm hại, nên người ta đem hình ảnh của Chu Tước trong tưởng tượng vẽ lên các cánh cửa cùng với đầu mãnh thú.2
Trước cổng một số đền miếu, cung điện, dinh thự, chùa chiền, nhà ở của người Hoa ở Trung Quốc (cả những khu vực trên thế giới có người Hoa sống tập trung), người ta đặt tượng của hai con lân, hoặc hai sư tử để ngăn chặn, trấn áp tà ma. Trong đó, sư tử được xem là “vua của các loài thú”, nó có xuất xứ từ châu Phi, Ấn Độ, Nam Mỹ… do vua nước Nguyệt Thị - một nước nhỏ ở Tây Vực - đem tiến cống cho Trung Quốc vào thời nhà Hán. Người ta thấy vẻ hùng dũng, uy vũ của sư tử sẽ làm cho ma quỷ phải khiếp sợ, đồng thời nó tượng trưng cho sự may mắn, lòng dũng cảm, và mang lại sức khỏe, sự thịnh vượng cho gia đình, làng xóm; Đặc biệt trong giáo lý của Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và Đạo giáo… sư tử được xem là loài thú rất linh thiêng, hình dáng của nó gợi ý về những uy thế, sức mạnh và sự thánh thiện, nên nó được sự sùng bái của hầu hết dân chúng. Người ta đã tạc tượng các con sư tử bằng đá để trấn thủ lăng mộ, đặt trước các dinh thự, đền miếu, nhà ở để xua quỷ trừ tà. Sư tử đá có niên đại cổ nhất được tìm thấy ở ngôi mộ Cao Ngõa Nhã An ở Tứ Xuyên (Trung Quốc), sư tử đá đặt trước mộ nhà Lương ở huyện Cú Dung, Giang Tô có hơn 1.400 năm tuổi…3 Hiện nay ở nước ta, trong các ngôi miếu, hội quán, đình, chùa của người Hoa, tượng hai con sư tử (một đực, một cái) cũng được đặt hai bên cổng ra vào. Ngoài yếu tố nghệ thuật, nó còn thể hiện nhân sinh quan phong phú và đa dạng của cộng đồng người Hoa về âm dương, sự nảy sinh và phát triển, ý thức cưu mang đùm bọc, tương trợ lẫn nhau, ngoài ra nó còn là vị thần giữ cửa rất linh thiêng, ngăn chặn không cho ma quỷ lộng hành.
Về sau, thần Cửa được thay thế bằng hình ảnh của con người, bởi dân gian tin rằng các nhân thần là những vị thần đáng tin cậy hơn. Tương truyền vào thời Tây Hán, có vị vương phủ nọ bị ốm đau, ông sai người vẽ nên bức họa một vị dũng sĩ gọi là Thành Khánh, treo lên cánh cửa điện để xua đuổi tà ma mong mình mau bình phục. Sau này, dân gian thờ hai vị tướng là Thần Đồ và Uất Lũy - đây được xem là Môn thần đầu tiên. Lai lịch của hai vị thần này, rất nhiều sách cổ đã nói qua, có từ lâu đời và lưu truyền cho đến ngày nay.
   Theo truyền thuyết xa xưa, Hoàng đế không những chỉ quản lý nhân gian, mà còn thống trị cả quỷ giới. Đối với những linh hồn phiêu bạt nơi nhân gian, Hoàng đế phái hai viên thần tướng thống lĩnh, tức Thần Đồ và Uất Lũy. Hai vị thần này sống trên núi Đào Đô ở Đông Hải, trên núi có một cây Đào đại thụ, cành lá rậm rạp tỏa kín 3 trượng xung quanh... Hai vị sẽ giám sát các loại quỷ thần hồn phách, và nếu phát hiện chúng làm hại con người, thì sẽ dùng lau cói trói chặt, ném vào sau núi cho Hổ ăn. Do đó, Thần Đồ và Uất Lũy là hai vị thần tướng khiến cho ma quỷ sợ hãi nhất, và cũng có thể nói rằng, hai vị chính là Môn thần đầu tiên trong tín ngưỡng thờ Môn thần của người Trung Quốc.4
   Ngoài Thần Đồ, Uất Lũy, thì Kim Kê (Gà) và Hổ cũng là hai con vật được dân gian vẽ lên trước cửa. Bởi dân gian cho rằng, Gà là linh hồn của buổi sáng sớm, là nỗi sợ hãi của các loại ma quỷ quen sống về đêm. Vì thế “dán tranh vẽ gà lên trên cửa” để làm cho “trăm loại ma quỷ đều sợ hãi nó”. Còn về Hổ, bởi nó là vua của các loại thú, “có thể vồ, cắn xé, nuốt chửng và ăn thịt ma quỷ”, cho nên “tranh vẽ Hổ ở ngoài cửa, ma quỷ không dám vào” Đây kỳ thực, cũng là một dạng môn thần5... Những vị thần hiện nay thay thế họ là Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức.
2. Tín ngưỡng thờ Môn thần của người Hoa ở Hội An
Như trên chúng tôi đã đề cập, trong tín ngưỡng dân gian của người Hoa, Môn thần là vị thần có khả năng ngăn chặn, đe dọa và khống chế các oan hồn, ma quỷ rất kỳ diệu; vị thần này có nhiệm vụ ngăn chặn không cho tà ma xâm nhập vào gia cư, gây tai họa cho con người như ốm đau, chết chóc, việc làm ăn bị thất bại,… Cho nên từ xa xưa, trong tín ngưỡng dân gian của họ, thần Cửa chiếm một vị trí rất quan trọng. Các vị thần này được thể hiện dưới nhiều hình thức thờ tự khác nhau, đôi khi chỉ là bức tranh, bức tượng, hình mặt hổ phù ngậm chiếc vòng thiếc, hình nhân bằng gỗ đào, chiếc gương soi hình tròn, hình bát giác ở trên đó vẽ hình bát quái hoặc chỉ một vài câu bùa chú gắn trên các cánh cửa ra vào. Qua điều tra khảo sát của chúng tôi, ở Hội An, tín ngưỡng thờ Môn thần được thể hiện khá rõ qua hình thức thờ hai vị thần là Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức tại các di tích tín ngưỡng tôn giáo và kiến trúc dân dụng của người Hoa. Có khi hai vị này được vẽ trên cánh cửa ra vào của Hội quán, hoặc dưới hình thức trang trí Mắt cửa trên các ngôi nhà.
* Hình vẽ trên cánh cửa ra vào Hội quán:
Ở Hội An, hình vẽ của hai vị thần Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức được vẽ trên hai cánh cửa ra vào Hội quán Triều Châu và Hội quán Quảng Triệu.
Hội quán Triều Châu tọa lạc tại số 157 đường Nguyễn Duy Hiệu, được người Hoa bang Triều Châu xây dựng vào năm 1845 làm nơi sinh hoạt cộng đồng và tín ngưỡng riêng của người Triều Châu ở Hội An. Hội quán thờ Phục Ba Tướng Quân là vị thần chế ngự sóng gió, nhằm cầu mong việc đi lại buôn bán trên biển được thuận buồm, xuôi gió. Hội quán là một công trình kiến trúc với bộ khung gỗ chạm trổ tinh xảo, cùng những họa tiết, trang trí bằng gỗ theo các truyền thuyết dân gian và những tác phẩm đắp nổi bằng sành sứ tuyệt đẹp. Còn Hội quán Quảng Triệu tọa lạc tại số 176 đường Trần Phú, do người Hoa bang Quảng Đông xây dựng năm 1885, thoạt đầu để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và Đức Khổng Tử, sau năm 1911 chuyển sang thờ Quan Công và Tiền Hiền.
Tại hai hội quán này, hình ảnh Tần Thúc Bảo râu hùm, khuôn mặt màu đen, còn Uất Trì Kính Đức khuôn mặt màu trắng, mặc nhung phục võ tướng, tay cầm binh khí đứng gác rất đường bệ, được vẽ bằng sơn màu rất đẹp. Về lai lịch của hai vị thần này, các học giả Trung Quốc6 cho biết, được ghi chép trong các mục “Tam giáo sưu thần đại toàn”, “Sưu thần ký” và “Sử đại thần tiên thông giám” trong sách Chính thống đạo tàng, vốn là hai vị tướng quân đời Đường. Từ khoảng đời Nguyên về sau, mới được sùng bái, cúng tế như các Môn thần.
Tương truyền, sức khỏe của vua Đường Thái Tông không tốt, vào ban đêm thường nghe trước cửa tẩm cung có tiếng ma quỷ kêu khóc, tam cung lục viện đêm ngày không yên. Nên Đường Thái Tông đem sự việc này nói với các đại thần, Tần Thúc Bảo bèn tâu: “Thần bình sinh giết người như trở bàn tay, thi thể nhiều như kiến, còn sợ gì bọn quỷ nhãi nhép ấy. Nguyện sẽ cùng Kính Đức mặc nhung trang đứng hầu”. Đường Thái Tông bèn chuẩn tấu, trong đêm cho hai người đứng giữ hai bên cửa cung, quả nhiên cả đêm bình an vô sự. Thái Tông vui mừng ban thưởng cho hai người, nhưng cảm thấy để hai người giữ cửa cung cả đêm quá vất vả bèn ra lệnh vẽ hình của hai vị tướng quân, với hình dáng giận dữ, tay cầm rìu, lưng mang roi và cung tên, dán vào hai bên cửa cung. Từ đó, trong cung được bình an vô sự. Cho tới đời Nguyên, dân gian mới quen dần với cách làm này, và phong hai vị làm thần. Cũng theo các học giả Trung Quốc7, trước đây, đã từng có ghi chép như vậy nhưng chưa nói rõ về hai vị này. Chỉ đến sau thời Minh, Thanh, những ghi chép này mới viết rõ đó là hai vị Tần Quỳnh (Tần Thúc Bảo) và Uất Trì Cung (Uất Trì Kính Đức). Như tác giả Cố Lộc, đời Thanh, trong sách Thanh gia lục. Môn thần ghi rõ: “Môn thần trong đêm. Thời cổ có thói quen vẽ hình ảnh của Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức, in vào giấy và dán ở nhà các hộ bá tánh”. Ngoài ra, căn cứ vào ghi chép của các học giả thời nay là Trương Chấn Hoa, Thường Hoa trong sách Trung Quốc tuế thời tiết lệnh lễ tục ghi rõ: “Tục lệ dán môn thần có lịch sử lâu đời, và ở mỗi địa phương đều có những thói quen khác nhau, thời gian khác nhau thì cách dán cũng khác nhau. Ở Bắc Kinh thường dùng ông mặt trắng Tần Thúc Bảo và ông mặt đen Uất Trì Kính Đức, để cầu mong trong năm được an toàn may mắn, bội thu”. Điều này cho thấy hai vị kể từ sau khi được phong làm Môn thần, đến nay vẫn được dân gian tín ngưỡng, cúng tế.
* Mắt cửa - Hình thức thờ Môn thần
Trên các cánh cửa ra vào những ngôi nhà cổ, hội quán, đền miếu, nhà thờ tộc, đình, chùa tại khu phố cổ Hội An, chúng ta thấy có gắn hai khoanh gỗ hình tròn, hình lục giác, hình bát giác… được chạm khắc khá công phu và đôi khi được sơn son thếp vàng, mà cư dân địa phương quen gọi là “Mắt cửa”. Mắt cửa là một dạng trang trí khá đặc sắc cho ngôi nhà, nó thực chất là núm khóa chốt cửa, có hình dáng chiếc đinh, phần tán ở đầu dày 10cm, đường kính khoảng 20cm, và phần chốt đục liền với tán tiết diện hình chữ nhật dài khoảng 30cm, có chức năng liên kết “đố cửa” và “khung cửa” giữ không cho cánh cửa rời ra.
Qua khảo sát tại khu phố cổ Hội An, bước đầu chúng tôi tìm thấy có trên 20 kiểu mắt cửa khác nhau. Phần lớn các mắt cửa có dạng hình tròn, hình lục giác, hình bát giác, hoặc cắt khấc thành 6 hoặc 8 đầu cánh hoa cúc; một số ít mắt cửa có dạng hình vuông như mắt cửa ở nếp nhà thứ ba nối với nhà cầu và sân trời của nhà số 67 Trần Phú; hình nửa khối cầu dẹt ở nhà số 77 Trần Phú... Tán mắt cửa thường được chia thành hai phần: phần tâm và phần vành bao quanh mắt cửa. Phần tâm của mắt cửa đa số thường trang trí hình lưỡng nghi được sơn hai màu đen trắng - biểu tượng của âm dương, hình nhụy hoa, hình chữ triện, chữ Phúc, chữ Thọ,… Còn phần vành bao quanh bên ngoài tâm, tạo dáng hoa cúc 6 hoặc 8 cánh mà cánh của nó xoáy hình lá đề (nhà số 101 Nguyễn Thái Học, nhà số 80 Trần Phú…), hình bát quái, hình hồi văn, hình giao long, hình bốn hoặc năm con dơi bao quanh chữ Phúc, có mắt cửa chỉ có một chữ Thọ, hoặc tạo một gờ chỉ nổi phía bên ngoài vây lấy tâm… Một số mắt cửa hình vuông thì phần vành của nó không được trang trí. Ngoài ra ở một số đền miếu, hội quán, mắt cửa có trang trí khác: như mắt cửa ở Miếu Quan Công (số 24 Trần Phú) có dạng hình tròn, phần tán được chạm nổi mặt con lân miệng đang há to, mắt trắng, mi xanh, mũi đỏ, râu bạc trông rất dữ tợn; mắt cửa ở hậu cung Hội quán Phúc Kiến sơn son thếp vàng mà phía trên chạm đôi rồng chầu mặt trời, phía dưới là đôi giao long chầu mặt trăng, ở chính giữa là vòng tròn âm dương; còn ở Chùa Cầu mắt cửa cũng sơn son thếp vàng, trên tán mắt cửa người ta chạm nổi hình bốn hoa cúc dây bao bọc xung quanh, xoáy lưỡng nghi nằm ở chính giữa,…
Viết về đôi “Mắt cửa” một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Người Hội An quan niệm con người và con vật đều có mắt để nhìn đời và nhìn lòng mình, thì đồ vật gắn với con  người cũng phải có mắt. Cái thuyền là nhà nổi trên sông phải được vẽ mắt trước khi hạ thủy, cái nhà trên đất cũng phải có mắt để tránh cho chủ nhà những tai nạn”.8
Như Phạm Hoàng Hải trong cuốn Người bạn đường du lịch văn hóa Hội An có viết: “Người Hội An quan niệm con người, con vật đều có mắt để nhìn đời và nhìn vào lòng mình thì các đồ vật gắn với vận mạng con người cũng phải có mắt. Các thuyền ghe ở Hội An cũng được vẽ vào hai bên mũi thuyền hai con mắt rất to và rõ để nhìn thấy mọi tai ương trên biển khơi. Cái nhà, nơi con người sống cả đời trong đó cũng phải có đôi mắt để bảo vệ mình và cũng mở cửa tâm hồn mình với xã hội”.9
Qua hai ý kiến trên, các tác giả đều cùng một quan điểm cho rằng: “Người Hội An quan niệm con người và con vật đều có mắt để nhìn đời và nhìn vào lòng mình, thì đồ vật gắn với con người cũng phải có mắt”. Tuy nhiên, chúng ta thấy nhiều đồ vật khác, cũng gắn chặt với cuộc đời của mỗi con người ở Hội An sao không có mắt?
Hai tác giả còn đưa ra ý kiến về chiếc ghe ở Hội An cũng được vẽ mắt. Điều này hẳn ai cũng biết, không chỉ riêng Hội An mà tại nhiều địa phương trên đất nước ta và các quốc gia trên thế giới, ghe thuyền cũng thường được vẽ mắt. Ở Ai Cập vào khoảng 2.700 năm trước công nguyên, trên những chiếc thuyền lớn, cư dân cổ Ai Cập đã vẽ một con mắt của thần Osiris; Ở Hy Lạp và Ý vào khoảng 450 - 100 năm trước công nguyên, trên các mũi thuyền đều sơn những con mắt; Ở vùng Bali của đất nước Indonesia, trên những chiếc thuyền độc mộc người ta vẽ đầu con quái vật biển Makara; Còn ở Việt Nam, mỗi địa phương đều có những cách vẽ mắt trên các mũi thuyền rất khác nhau. Từ xưa dân gian quan niệm xem chiếc thuyền cũng như một sinh vật, mỗi khi đi trên kênh rạch, ao hồ, sông, biển thường gặp những con quái vật gây hại đối với con người, nên họ vẽ mắt ở hai bên mũi thuyền để các loài thủy quái không dám làm hại. Ngoài ra, ghe thuyền có mắt để dẫn con người đến những ngư trường có nhiều tôm cá.
Đối với nhà cửa, nơi con người sống cả cuộc đời cũng phải có “đôi mắt” thì vẫn còn nhiều vấn đề chưa thật sự thuyết phục. Ở khu phố cổ Hội An, mắt cửa chỉ tập trung trong những di tích kiến trúc dân dụng và kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của người Hoa, nhưng rất hiếm thấy trên những ngôi nhà, đình, chùa của người Việt. Trong khi đó, làng mộc Kim Bồng (nay là xã Cẩm Kim - Hội An) - nơi sản sinh ra những nghệ nhân góp phần hình thành nên quần thể kiến trúc khu phố cổ Hội An, thì trong những ngôi nhà của họ lại không chạm khắc trang trí mắt cửa. Còn trong nhiều ngôi nhà của người dân tộc Bạch, cách trung tâm thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc khoảng 40km có trang trí nhiều mắt cửa, tuy kiểu thức chạm khắc trang trí không phong phú như ở Hội An, nhưng theo họ, đây là hình thức tín ngưỡng thờ thần Cửa của mình. Do đó, theo chúng tôi, “Mắt cửa” là một trong những hình thức thờ “Môn thần” trong tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở khu phố cổ Hội An?

3. Thay lời kết
Tín ngưỡng thờ Môn thần là một trong những tín ngưỡng cổ xưa nhất, đồng thời, cũng được xem là một trong những hiện tượng văn hóa đặc sắc của văn minh Trung Hoa. Từ ảnh hưởng của tín ngưỡng này, trong dân gian đã dần dần hình thành nên nhiều tín ngưỡng khác, trong đó, có tín ngưỡng thờ thần Tài.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, các giai đoạn phát triển khác nhau của con người mà vai trò, chức năng và hình ảnh của Môn thần cũng vì thế thay đổi. Và điều này, đã được minh chứng rõ ràng nhất qua các hình thức thờ Môn thần của người Hoa ở Hội An.
Mặc dù ngày nay, trong các công trình kiến trúc của người Hoa ở Hội An, Môn thần ít được cúng bái, hằng đêm người ta chỉ cần cắm hai bên cánh cửa một cây nhang là đã thể hiện lòng tôn kính của gia chủ đối với các thần. (Còn ở khu vực Nam bộ, và một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong một số gia đình người Hoa họ có tục cúng Môn thần vào ngày mùng 2 và 16 âm lịch. Nhân ngày cúng Môn thần, người Hoa Quảng Đông chuẩn bị một mâm lễ vật luân chuyển cúng từ bàn thờ này sang bàn thờ khác, còn các nhóm người Hoa khác thì mỗi bàn thờ có một mâm lễ vật riêng). Song điều đó, vẫn không làm mất đi nét đẹp văn hóa truyền thống nơi cố hương (Trung Quốc), mà còn góp phần làm phong phú thêm văn hóa cho vùng đất mới - Hội An.

Chú thích:
1 Kim Khai Thành (chủ biên), Táo thần, Môn thần, Tài thần, Nxb Văn sử Cát Lâm, 2009, tr.23.
2 Vương Kiến Huy, Dịch Học Kim (chủ biên). Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc. Nxb Thế Giới, 2004, tr.529.
3 Vương Kiến Huy, Dịch Học Kim (chủ biên). sđd, tr.846.
4 Trần Thái Tiên. Nguồn gốc các vị thần. Nxb Hoa kiều Trung Quốc, Bắc Kinh, 2011, tr.13.
5 Kim Khai Thành (chủ biên). sđd, tr.79-82.
6 Kim Khai Thành (chủ biên). sđd, tr.85.
7 Kim Khai Thành (chủ biên), sđd, tr.86-88.
8 Chu Quang Trứ. Hội An nơi hội tụ các yếu tố nghệ thuật. T/c VHNT số 8(170), 1998, tr.50.

9 Phạm Hoàng Hải. Người bạn đường du lịch văn hóa Hội An. Nxb Thế Giới Hà Nội, 2001, tr.39.