Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2016

Bảo tồn và phát huy giá trị Lễ hội cầu ngư ở thành phố Đà Nẵng

Võ Văn Hòe

1. Vấn đề tên gọi
1.1.Căn cứ vào hình dạng [[1]]của đầu Cá Ông, ngư dân đã phân biệt ba loài Cá Ông chính: loại có đầu tròn gọi là Ông Chuông, Ngài Chuông; loại có đầu có mỏ dài như cá kìm gọi là Ông Kìm, Ngài Kìm và loại có kỳ cao trên lưng như cây phướn gọi là Ông Phướn, Ngài Phướn.
Do tín ngưỡng tâm linh về sự phù hộ của Thần, Phật, nên cộng đồng ngư dân làm nghề đánh cá biển thường gọi Cá Ông bằng nhiều danh xưng tôn kính khác nhau tùy theo các địa phương như Cá Ngài, Ông Nam Hải, Ông Lớn, Ông Cậu / cô, Ông Lộng, Ông Khơi, Ông Chuông, Ông Kìm, Ông Phướn, Ông Sứa v.v... và coi Cá Ông như một vị thần hộ mệnh giữa biển khơi đầy sóng gió và họ có nhiệm vụ thờ cúng khi Cá Ông lụy để đền ơn đáp nghĩa theo luật nhân quả của Nhà Phật và cầu mong Cá Ông phù hộ cho thuyền đánh cá của họ ra khơi vào lộng được an toàn và khi quay về tôm cá đầy ghe.
Theo kinh nghiệm của ngư dân, trong ba loài Cá Ông nói trên thì Ngài Chuông và Ngài Kìm được sùng bái hơn Ngài Phướn.
1.2. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thống nhất đưa ra tên gọi Lễ hội cầu ngư, thảng trên các phương tiện truyền thông còn gọi là Lễ hội cầu ngư vùng / miền biển.
Lễ hội cầu ngư, một cách gọi chung các thành tố nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định diễn ra trong lễ hội: Lễ Nghinh Ông, Lễ cúng Tiền Hiền – cúng Thần linh, Lễ tế cá Ông – Lễ Cầu ngư và kết thúc bằng nghi lễ dân gian hát bả trạo, trong đó Lễ tế cá Ông là lễ chính.
1.3. Trong dân gian miền biển, cư dân sống bằng nghề đánh bắt cá, tôm, thường gọi là Lễ tế Ông, hoặc Lễ cúng Ông. [[2]]
Trong lễ tế Ông phần chủ yếu là xin ông cho đánh bắt được nhiều cá, tôm,…quan trọng là cầu xin Ông cho trời yên, biển lặng để ra khơi được an toàn.
2. Sự hình thành và nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cá Ông
2.1.Theo truyền thuyết
2.1.1.Thần thoại người Việt
Trong dân gian vùng duyên hải miền Trung đặt ra những câu chuyện thần kỳ về cá Ông để tìm đến sự tín ngưỡng, ổn định đức tin của họ khi thờ cúng. Truyện còn lưu truyền một truyền thuyết về cá voi như sau: "Cá Ông vốn là một trong muôn mảnh vải của chiếc áo cà sa của Phật Bà Quan Âm, được xé ra và ném xuống biển mà thành. Với bộ xương đặc biệt của mình, Cá Ông có phép "thâu đường" (rút ngắn quãng cách), do đó Phật Bà Quan Âm ban cho Cá Ông nhiệm vụ tìm cứu người mắc nạn giữa biển khơi". Miền Trung, khu vực từ Núi Hải Vân trở ra đến Thanh Hóa, lăng thờ cá Ông không nhiều tại các làng chài ven biển. Tại Diêm Phố (huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa); Quảng Bình có lăng tại làng biển Cảnh Dương, Thuận An, Mỹ Lợi; tỉnh Thừa Thiên-Huế có lăng tại làng biển Cảnh Dương. Từ thành phố Đà Nẵng trở vào đến Bình Thuận – Ninh Thuận có nhiều lăng thờ cá Ông.
2.1.2. Thần thoại người Chăm
Thần thoại Chămpa có một truyền thuyết nói về sự tích Cá Ông với nhiều tình tiết hấp dẫn, nhưng kết thúc vẫn nhấn mạnh về việc Cá Ông cứu người trong bão táp giữa biển rộng bao la như một đặc tính tự nhiên hiếm có của loài sinh vật biển này.
Do đó, mỗi khi một làng vạn chài gặp Cá Ông bị chết trên biển hay trôi dạt vào bờ thì họ cho đó là một điềm may cho vạn chài của mình sẽ có những vụ đánh cá bội thu.
            - Các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian cho rằng cầu ngư là hình thức văn hoá tiếp biến từ văn hoá của người Chăm sang người Việt. Trong quá trình cộng cư tại vùng đất miền Trung Việt Nam không thể không có sự giao thoa văn hoá diễn ra giữa Việt – Chăm. Tìm thấy hình thức tổ chức loại lễ hội này và lăng/miễu thờ cá Ông/voi có tại vùng đất Quảng Bình vào đến Kiên Giang – Phú Quốc. Nghĩa địa cá Ông tại Quảng Nam được cho là nghĩa địa lớn nhất nước. [[3]]
- Họ cũng cho rằng Lễ hội Cầu ngư là một sự tiếp biến văn hóa Chămpa, xuất hiện giai đoạn đầu vào thế kỷ XI, đến giai đoạn sau từ thế kỷ thứ XV (1471) và dần về sau, khi người Việt đến định cư ở Đàng Trong của Đại Việt, nên lễ hội này chỉ có mặt từ Đèo Ngang của Trung Bộ cho đến Cà Mau, Phú Quốc của Nam Bộ. “Nếu tìm về cội nguồn của tục thờ này, chúng ta thấy rằng ngay từ đầu người Chăm đã xem cá voi như Hải Vương. Chính qua quá trình tiếp xúc với họ mà người Việt mới bắt đầu chú ý đến động vật có vú to lớn này.
Những nghiên cứu thực hiện với các bộ tộc Chăm, lúc bấy giờ đang còn cư trú ở vùng duyên hải giữa Phan Rang và Phan Rí làm chúng ta nghĩ rằng những nghi lễ của dân tộc thiểu số có nguồn gốc Mã Lai – Indonesian này đã có từ xa xưa. Theo truyền thống truyền khẩu Chămpa liên quan đến loài cá voi phi thường này thì chúng ta hãy lưu ý rằng rằng khởi thuỷ, người Chăm luôn thần thánh hoá những gì họ cho là cao quý. Cũng chính vì thế mà gỗ đại bàng [[4]], thứ gỗ mà những người Bồ Đào Nha đầu tiên đã mua rất đắt, là một vật trong một truyền thuyết giải thích cho gốc tích thần tiên của họ” [[5]].
Cộng đồng ngư dân vạn chài ven biển như trước kia người Chăm coi cá voi như một vị thần của biển khơi, vị thần bản mệnh có liên quan đến sự hưng thịnh của vạn chài, đến đời sống hàng ngày của ngư dân, nên họ gọi cá voi là cá Ông. Điều này đã trở thành một tín ngưỡng trong đời sống tâm linh của ngư dân vạn chài đánh cá biển trong nửa thiên niên kỷ qua. Cho nên cư dân ven biển lập lăng thờ cá Ông gọi là Lăng Ông, hoặc Miễu Ông. Huyền thoại của ngư dân Chăm vùng Nam Trung bộ Việt Nam, kể rằng: “cá voi là hoá thân của vị thần Cha – Aih – Va. Thần, sau một thời gian khổ luyện pháp thuật, do nôn nóng trở về xứ sở nên đã cãi lời thầy, tự ý biến thành cá voi, ra sông lớn rồi ra biển. Vì vậy, thần đã bị trừng phạt, các thuỷ tộc hành hình bị hoá thành thiên nga,…Sau đó lại được làm thần tự xưng là Po Riyak Thần Sóng. Từ đó thần là ân nhân của người dân bị đắm thuyền trên biển. Cứ nghe các thuyền nhân kêu cứu, thần lại hoá thành cá voi lập tức tới cứu” [[6]]. “Ngày xưa, chàng Eh Wa, xuất thân từ giai cấp nông dân nghèo đã trải qua sự áp bức bóc lột của bọn cường hào ác bá, nên quyết chí bỏ làng ra đi tìm thầy học đạo, mong giải thoát dân làng khỏi cảnh lầm than cơ cực, bởi những thành phần bất nhân bất nghĩa.
Trước lúc ra đi, chàng nhìn quê hương lần cuối nước mắt dàn dụa rồi bôn ba qua xứ Ả Rập, được một thầy ở thành La Mã nhận làm đệ tử. Qua bao năm tháng quyết tân giùi mài kinh sử, chàng đã thành tài nhưng lúc nào cũng nghĩ đến quê hương, nỗi đau của dân làng luôn canh cánh trong lòng chàng như lửa đốt.
Một hôm, chàng quỳ lạy thầy bày tỏ nỗi lòng của mình cho thầy nghe và xin phép thầy cho chàng trở lại quê hương để tìm cách giúp đỡ những nỗi thống khổ của dân làng ở xứ Chămpa.
Thầy gieo quẻ bấm độn số biết đó là mệnh trời đã định và chưa đến hạn nên dù bôn ba cũng không qua thời vận, thầy nghĩ: “Thiên cơ bất khả lậu” nên không cho đi. Nếu để làm liều sẽ mang tội với ông trời và thầy cũng vạ lây.
Chàng Eh Wa, ngày đêm bứt xúc ăn không ngon, ngủ không yên. Vào một đêm trăng sao sáng tỏ, trời mây êm ả đã đưa giấc ngủ của thầy vào giấc ngủ thần tiên. Thừa lúc này chàng Eh Wa lén lấy tấm ván trên gác kết bè rồi quỳ lạy từ biệt thầy ba lạy, liền xuống bè vượt sóng về cố hương.
Thầy thức giấc thấy vắng chàng Eh Wa, nhìn trên gác thì thấy mất tấm ván biết chàng đã trốn về quê hương. Trong cơn thịnh nộ, thầy nguyền rủa:
- Những tên học trò phản bội thầy thì thành khỉ, thành vượn.
Riêng Eh Wa cãi lời thầy, muốn cãi cả mệnh trời nên phải chịu sự trừng phạt thê thảm. Ông rủa tiếp:
- Hỡi Eh Wa người cãi lời ta nếu ngươi đi đường bộ thì bị rắn cắn, cọp vồ mất xác, nếu ngươi đi qua cây bị cây đổ đè chết; nếu ngươi đi qua hang động sẽ bị sập vùi lấp thây người xuống hố sâu vực thẳm. Nếu người đi đường biển sẽ bị sóng dập, cá mập, cá xà ăn tươi, nuốt sống ngươi.
Lời nguyền rủa của thầy thật màu nhiệm. Eh Wa vượt biển gần đến đất liền bỗng nhiên trời nổi phong ba bão tố, sóng thần nổi lên cuồn cuộn như thác đổ, đánh vỡ tấm bè. Eh Wa bị cá mập nuốt sống, hương hồn của Eh Wa hòa nhập vào cá Voi để cứu độ ngư dân khi bị nạn đắm thuyền bè. Eh Wa chết vì sóng người Chăm gọi là Riyak, nên dân gian truyền tụng gọi là Po Riyak (Thần Sóng)”. [[7]]
Mặc dù Eh Wa chưa thực hiện được lý tưởng của mình nhưng tấm lòng cao cả của ông đồng bào  Chăm kính phục được ghi vào hệ thống nhân thần. Ngày nay, hằng năm vào tháng hai, ba (lịch Chăm) ở các làng Chăm Bà-la-môn và Bàni tổ chức lễ hội để ghi nhớ công đức và sự hy sinh cứu độ của ông.
Po Riyakkhông những người Chăm thờ mà cả ngư dân vùng biển người Việt cũng lập miếu thờ (gọi là thần Nam Hải), hằng năm thường tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công lao cứu mạng của ông.

Người Chăm còn nói rằng: “Khi Hải Vương bơi, tất cả các loài cá đều nhanh chóng hộ tống ngài. Nếu có người ném đá trên đường đi của vị Hải Vương đầy sức mạnh này, họ sẽ trả giá đắt. Những căn bệnh trầm trọng nhất và vô phương cứu chữa sẽ đổ ập xuống đầu họ. Vua cá Ông có thể thả trôi bồng bềnh trên mặt đại dương như một tảng bùn có màu vàng nếu nhìn từ xa. Khi bão nổi lên, vua cá Ông sẽ biến thành thiên nga và đứng ở cửa sông. Các thuỷ thủ cầu khấn ngài phù hộ sẽ được cứu sống còn kẻ báng bổ ngài sẽ bị nhấn chìm”…“Ngài đi tuần đêm sẽ cứu những chiếc tàu sắp chìm” [[8]]
2.1.Theo sự công nhận của các vua triều Nguyễn
   - Dưới thời Nhà Nguyễn, danh sĩ Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825), trong chương Thành Từ Chí của sách "Gia Định Thành Thông Chí" đã viết vào dầu thế kỷ XIX về việc Cá Ông cứu người: "... Những lúc ghe thuyền bị phong ba giữa biển thường thấy cá voi đi kèm thuyền cho khỏi nghiêng đắm, giữ gìn cho người được bình yên. Nếu thuyền bị rủi chìm, cá voi có thể vực người lên bờ. Triều đình có ban sắc phong là "Nam Hải Tướng Quân Ngọc Lân Tôn Thần" và ghi vào Điển Lễ Thờ Tự".
   - Sách "Đại Nam Nhất Thống Chí" của Triều Nguyễn cũng đã tôn vinh Cá Ông khi viết: "Đầu tròn, nơi trán có lỗ phun nước ra, sắc đen trơn láng, không có vảy, đuôi và hai vây như đuôi tôm, tánh từ thiện hay cứu cho người khi mắc nạn trên biển. Đầu niên hiệu Minh Mạng (1820) vua đặt tên cho là "Nhân Ngư", đầu niên hiệu Tự Đức (1847) đổi tên là "Đức Ngư". Loại cá này trong Nam Hải thì linh còn ở biển khác thì không linh".
Ghi vào Điển lễ để thờ từ thời vua Gia Long đã xác nhận có sự quan tâm của chính quyền đương thời công nhận từ loài cá voi đến thần/Ông và cho phép người dân các làng chài ven biển thờ tự, cho biết rằng hình thức tín ngưỡng cá Ông trở nên cần thiết cho những người sống bằng nghề đi biển. Và từ đó lớp cư dân này lập lăng / dinh để thờ Ông. Lễ tế cá Ông từ đó dần xuất hiện có quy mô.
Cá Ông được các vua nhà Nguyễn phong thần hay cứu người gặp nạn trên biển:
- Thời Gia Long phong tước hiệu là: Nam Hải cự tộc Ngọc Long tôn thần.
- Thời Minh mạng không những tôn thành thần mà còn đánh giá vị thần này: Cá voi lâu nay hay cứu người trên biển, chuẩn định từ nay hễ có cá voi chết giạt vào các cửa biển thuộc Kinh kỳ thì phủ Thừa Thiên phải đem chôn, cấp cho một tấm vải, mười quan tiền. Vua bảo thị thần: "Cá Voi là giống cá biển to, tính hay cứu người nên gọi là nhân ngư. Còn những tên gọi Ngọc Lân hay Hải Long là tục truyền lầm. Chỉ lạ là người ở hải phận nước ta truyền nhau rằng cá ấy phần nhiều thiêng, còn biển nam từ Hà Tiên trở vào Nam, biển bắc từ Quảng Yên trở ra Bắc thì lại không thế,..."
- Thời Tự Đức, gia tặng cá Ông mỹ tự Từ Tế Linh Chương Trợ Tín trừng trạm chi thần. Từ thời Tự Đức, lễ tế cá Ông lụy được điển chế hóa như là một đại lễ, có khi còn vượt ra khỏi quy mô, ranh giới của làng xã. Sử sách từng ghi chép rằng năm Tự Đức thứ 31 (1878), phủ Thừa Thiên có tờ thư tấu trình về việc xin cấp tiền tuất cho cá voi chết, nhà vua châu phê: "Về sau, phàm như thế thì ban cấp ngay, không nên chờ chỉ để quá trễ".
- Thời Duy Tân, cá voi được phong đến Thượng đằng thần, với các mỹ tự: Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân, gia rặng: Từ Tế Linh Chương Trợ Tín Trừng trạm Phu ứng Hộ Quốc Tỷ dân hoằng hợp Thượng đẳng thần [9].
Ở xứ Quảng (vùng đất Ngũ Quảng xưa), từ các địa phương ven biển của tỉnh Quảng Bình cho đến các địa phương ven biển của tỉnh Quảng Ngãi và vào đến Bình Thuận, các làng chài ven biển đều có tiến hành lễ tế cá Ông một lần trong năm mà điển hình nhất là ở Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Trong tiến trình nghi lễ, người Việt miền Trung đã Việt hoá hình thức nghi lễ theo cách của mình cho phù hợp. Đôi khi họ không còn nghĩ rằng cầu ngư chính là tiếp biến từ hình thức thờ cúng cá Ông của người Chăm sang người Việt miền Trung.
3. Đặc trưng của tín ngưỡng thờ cá Ông nói chung và lễ hội cầu ngư nói riêng ở Đà Nẵng
   3.1. Nói chung vùng miền
- Lễ hội Cầu ngư còn được gọi là Lễ Tế Cá Ông, là một loại hình lễ hội dân gian truyền thống của cư dân vạn chài ở ven biển miền Trung nước ta sinh sống bằng nghề đánh cá biển.
   - Vì vậy, ngư dân đánh cá biển nước ta nhận thấy Cá Ông dù có thân hình to lớn, nhưng hiền lành và không bao giờ làm hại người, ngược lại còn cứu mạng họ khi bị tai nạn đắm thuyền trên biển, nên được họ coi như một vị thần của biển cả, mà ngư dân xứ Quảng gọi theo sắc phong thần của các vua nhà Nguyễn, tôn vinh là "Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần".
- Khi Cá Ông sống, ngư dân đánh cá biển xứ Quảng gọi là Ông Sanh, khi Cá Ông chết thì gọi là Ông Lụy. Khi còn sống, Cá Ông là ân nhân cứu sống sinh mạng của họ, những khi bão to gió lớn trên biển, khi Cá Ông lụy thì họ chịu tang như đối với người thân của mình. Theo chúng tôi, tại Quảng Bình có các làng chài ven biển: Cảnh Dương, Quy Đức, Lý Hoà, Bảo Ninh, Hải Ninh, Lệ Thuỷ, Phú Bình, lễ hội không theo quy trình như lễ hội tại Quảng Nam trở vào mà thường nhân ngày Quốc Khánh mồng 2 tháng 9, hoặc nhân các ngày lễ lớn trong năm mới tổ chức. Dân các làng biển Quảng Bình cầu ngư, cầu vũ thuận phong điều, cầu quốc thái dân an,…nghĩa là có sự tích hợp với nhiều loại tín ngưỡng, lễ tế, không riêng cho cầu ngư. Tuy nhiên làng Cảnh Dương thuộc tỉnh Quảng Bình, do đó các nhà nghiên cứu cho rằng vùng từ Quảng Bình trở vào hằng năm có lễ hội cầu ngư là chấp nhận được.
3.2. Nói riêng ở Đà Nẵng
- Tại Đà Nẵng, các làng chài ven biển lập lăng/miễu thờ Ông có bộ hài cốt cá Ông/voi. Điều này cho biết rằng đối với người sinh sống bằng nghề đánh cá tôm trên biển, hằng năm tổ chức lễ hội cầu ngư hoặc lễ tế cá ông những mong Ông giúp cho trời yên, biển lặng để được yên tấm lòng.[[10]]. Xưa kia, đây là vùng đất của cư dân tiền trú với văn hóa Sa Huỳnh, sau người Chăm đến, kế là người Việt đã tạo nên sự giao thoa, tiếp biến văn hóa giữa Đông Sơn – Sa Huỳnh, theo đó, chúng tôi thống nhất, rằng lễ hội cầu ngư các làng chài ven biển duyên hải miền Trung, người Việt tiếp biến từ tục thờ cá Ông của người Chăm sau khi người Việt vào miền Trung sinh sống [[11]].“…Những người Việt có máu phiêu lưu khi di cư vào phương Nam tìm đất sống đã nhận thấy ở vùng đất thần bí này cả một nghi lễ kỳ lạ nhưng hấp dẫn mà họ phải tính đến bởi nó là một bộ phận trong đời sống của những bộ tộc gốc Mã Lai – Indonesian này. Trong tiến trình di dân tất yếu về phương Nam bắt đầu ngay từ giữa thế kỷ XI (1044), người Việt đã không hề ngần ngại tiếp nhận một số tín ngưỡng của các bộ tộc nơi đây, thậm chí còn kết hợp với các vị thần của mình, trong đó có cá Ông” [[12]].
            4. Vai trò của lễ hội cầu ngư trong đời sống ngư dân đương đại như thế nào ?
            Đến những năm đầu của thế kỷ XXI, lễ hội Cầu ngư / lễ tế cá Ông vẫn còn được tổ chức dọc theo ven biển Đà Nẵng. Hằng năm, qua lễ tế, cầu xin Ông giúp đỡ, độ trì cho trời yên biển lặng, ngư dân ra khơi không gặp hiểm nguy, ngày quay về cá tôm đầy ghe, cuộc sống người dân thơ thới hơn. Họ luôn giữ mình tâm niệm: "Mắt lệ rưng rưng chiêm ngưỡng hình hài, đầu tựa đầu voi, mình như dòng sông xanh trên biển. Vốn xưa nay nhân gian trăm họ đều mang ơn cứu tử khôn cùng, nay mới được tận mắt ngưỡng trông, luôn tụng niệm tạ đức thế sinh, đã khiến cho tai qua nạn khỏi, được bình yên trở lại quê hương. Ân sâu này như bể rộng núi cao, có lời nào nói sao cho hết, có cách nào báo đáp tề ngay. Cảm đức ân mà giọt lệ sầu cảm, ai nấy đều đau đáu xót thương. Từ sâu cõi lòng thành thực, có mấy lời tạm gọi điếu văn. Chốn miếu đài tịch duyệt trang nghiêm, lòng thành tâm kính dâng trà rượu, cầu mong Ngài hiển ứng cõi linh, luôn trì độ chúng dân sở tại. Xin nguyện thờ mãi mãi tôn linh cho chúng dân muôn đời tài lộc".
Lễ hội Cầu ngư kết thúc bằng nghi lễ hát múa bả trạo, có nghĩa là hát nắm mái chèo (bả: nắm chắc, trạo: mái chèo), có nơi gọi là nghi lễ xin hát trò bả trạo, có nơi gọi là nghi lễ xây chầu bả trạo. Hát múa bả trạo còn gọi là hát múa bạn chèo. [[13]]

. Về việc mở rộng quy mô, nâng cấp lễ hội cầu ngư lên cấp thành phố, động viên ngư dân ra khơi đánh bắt hải sản, bám trụ ngư trường biển truyền thống.
1. Những năm đầu thế kỷ XXI, thành phố Đà Nẵng có 4 loại hình lễ hội đang còn tổ chức tại các địa phương:
- Lễ hội nông nghiệp (biểu hiện là Đình làng tại các thôn / làng huyện Hòa Vang, quận Liên Chiểu).
- Lễ hội ngư nghiệp (biểu hiện là lễ tế cá Ông / Cầu ngư tại quận Thanh Khê, Sơn Trà).
- Lễ hội văn hóa và tín ngưỡng dân gian dân tộc Cơ tu (biểu hiện là Lễ hội văn hóa dân tộc Cơ tu, xã Hòa Phú, òa Hhuyện Hòa Vang).
- Lễ hội tôn giáo (biểu hiện là Lễ hội Quán Thế Âm tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn).
Trong các loại hình lễ hội trên, lễ tế cá Ông / Cầu ngư trước năm 1945, được chính quyền cấp huyện tổ chức, nay cấp quận tổ chức; lễ hội Quán Thế Âm, vào những năm đầu thế kỷ XXI đến nay, chính quyền cấp thành phố tổ chức, do lễ hội Quán Thế Âm là lễ hội cấp quốc gia; lễ hội văn hóa dân tộc Cơ tu cấp huyện tổ chức.
Xem thế chỉ còn lễ hội nông nghiệp biểu hiện là đình làng là do mỗi làng tự tổ chức hằng năm.
Theo đó, việc mở rộng quy mô, nâng cấp lễ hội cầu ngư lên cấp thành phố, động viên ngư dân ra khơi đánh bắt hải sản, bám trụ ngư trường biển truyền thống là diễn trình tiếp biến từ trước tới nay, do:
Biển vẫn còn, nghề đánh bắt cá vẫn còn, ngư dân còn,
Môi trường xã hội về nghề đánh bắt thủy hải sản vẫn còn tồn tại,
Do đó, việc nâng cấp lễ hội Cầu ngư lên cấp thành phố sẽ đạt được các yêu cầu:
một là phát triển kinh tế biển;
hai là giữ biển, giữ ngư trường truyền thống, vì đây là lãnh thổ của ta, ngư dân ra biển là giữ biển đảo ta, thể hiện chủ quyền biển đảo của ta, đây là điều cần thiết, góp phần cùng cả nước đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững địa – chính trị – văn hóa của ta.
ba là giữ được làn điệu hò bả trạo và vũ đạo trong giới ngư dân.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Thái Văn Kiểm, Le culte de la baleine, Bulletin de la Sociéte des Etudés Indochinoises. Dẫn theo Tập nghiên cứu văn hoá dân gian Thừa Thiên - Huế, 2008.
- Văn hoá biển miền Trung và văn hoá biển tây Nam bộ” Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, NXB Từ điển bách khoa, 2008.
- Nhận thức về miền Trung Việt Nam, hành trình 10 năm tiếp cận, Phân viện văn hóa, nghệ thuật Việt Nam tại Huế, NXB. Thuận Hóa 2009. Chuyên đề: Cá Ông trong đời sống tinh thần của ngư dân biển ở miền Trung Việt Nam. Nguyễn Thăng Long.
- Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, Nguyễn Duy Thiệu, NXB. KHXH, 2002. Dẫn theo Tập nghiên cứu văn hoá dân gian Thừa Thiên - Huế, 2008.
- Tập tục lễ hội đất Quảng, Võ Văn Hòe, Hoàng Hương Việt, Bùi Văn Tiếng (chủ biên), NXB Đà Nẵng, 3. 2009.
- Tập tài liệu Văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn quận Sơn Trà, UBND quận Sơn Trà – Phong Văn hóa và Thông tin, Đà Nẵng, 2008.



[1] Cá voi – cá Ông – là một loài động vật có vú, sinh con, thở bằng phổi, thích nghi với đời sống ở biển ôn đới cũng như hàn đới, là một sinh vật lớn với thân hình đồ sộ, có thể trọng có thể đến 120 – 150 tấn. Vì thở bằng phổi nên 3–5 phút cá voi phải ngoi lên mặt biển để thở, hấp thụ ôxy đồng thời có tập tính hay bơi theo thuyền đánh cá của ngư dân, nhất là khi có sóng to gió lớn cho đến tận gần bờ mới rời thuyền bơi ngược lại ra biển khơi. Chính điều này có liên quan đến việc Cá Ông cứu người hay ghe thuyền bị nạn giữa biển khi có gió to và bão. Ngược lại, vì là một loài động vật có trọng lượng lớn, nên cá voi trở thành đối tượng đánh bắt hải sản của một số nước công nghiệp như Nhật Bản, Ốtxtralia v.v... mặc dù đã có Hiệp ước Quốc tế cấm đánh bắt cá voi.

[2] Hội, trong Lễ hội từ khi có Nghị quyết TW V (khóa 8) dần được đưa vào trong các lễ tế mang tính chất cộng đồng.
[3] Theo Nguyễn Thanh Lợi trong tài liệu "Tục thờ cá Ông ở Việt Nam" cho biết:
        Địa phương
       Số lượng lăng
Đà Nẵng, Quảng Nam
20 lăng
Phú Yên
20 (Hòa Tâm, Tuy Hòa có 3 lăng)
Khánh Hòa
50 lăng (Vạn Ninh: 13, Ninh Hòa: 15; TP. Nha Trang: 11; Cam Ranh: 11; (trong đó, các đảo 12 lăng). Mỗi xã/phường có 1 lăng, có nơi có 2,3,4 lăng (nhiều thôn trong một xã), phường Vĩnh Nguyên (TP. Nha Trang có 6 lăng).
Ninh Thuận
2 điểm  thờ tại thôn Sơn Hải, xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước)
Bình Thuận
26 lăng, dinh, vạn, riêng đảo Phú Quý có 9 lăng

[4] Một loại gỗ không rõ, có thể là trầm hương hay kỳ nam. (VVH).
[5] Dẫn theo Tập nghiên cứu văn hoá dân gian Thừa Thiên - Huế, 2008.
[6] Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam, Nguyễn Duy Thiệu, NXB. KHXH, 2002. Dẫn theo Tập nghiên cứu văn hoá dân gian Thừa Thiên - Huế, 2008.
[7] Theo: Truyện cổ dân gian Chăm, Trung tâm nghiên cứu văn hóa Chămpa, Nguyễn Thị Thu, Thập Liên Trưởng, Phạm Văn Thành, NXB. Văn hóa dân tộc, tr. 59 – 62.
[8] Thái Văn Kiểm, Sđd.
[9] Dẫn theo Nhận thức về miền Trung Việt Nam, hành trình 10 năm tiếp cận, Phân viện văn hóa, nghệ thuật Việt Nam tại Huế, NXB. Thuận Hóa 2009. Chuyên đề: Cá Ông trong đời sống tinh thần của ngư dân biển ở miền Trung Việt Nam. Nguyễn Thăng Long, tr. 134,135.
Dưới triều Nguyễn, cấp độ phong tặng cá Ông cho biết:
- Nam hải cự tộc Ngọc Lân chi Thần (thời Minh Mạng); Từ Chế Chương Linh Trợ Tín Nam Hải cự tộc Ngọc Lân chi Thần (thời Thiệu Trị);  Từ Tế Chương Linh Trợ Tín Trừng Trạm nam hải cự tộc Ngọc Lân chi Thần (thời Tự Đức); Từ Tế Chương Linh Trợ Tín Trừng Trạm nam Hải cự tộc Ngọc Lân chi Thần (thời Đồng Khánh); Từ Tế Chương Linh Trợ Tín Trừng Trạm Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần (thời Duy Tân).

[10] PGS. TS Nguyễn Xuân Đức trong bài viết: “Từ đền thờ đức Ông, đức Bà ở Cảnh Dương nghĩ về tục thờ cá voi của người Việt” trong sách “Văn hoá biển miền Trung và văn hoá biển tây Nam bộ” Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, 2008, tr.139 cho rằng tục thờ cá voi không chỉ ở Đàng Trong mà Đàng Ngoài cũng có thờ tự. "Sự hiện diện của một số đền, miếu thờ cá voi ở miền Bắc, nhất là ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng như những tư liệu có được từ đền thờ Đức Ông, Đức Bà  ở Cảnh Dương, một làng biển phía trong đèo Ngang, do lưu dân xứ Nghệ lập nên, đã khiến chúng tôi nghi ngờ những ý kiến cho rằng tục thờ cá voi chỉ có từ đèo Ngang trở vào – là vùng đất Chăm cũ, rồi từ đó suy ra tục thờ cá voi vốn của người Chăm được người Việt tiếp thu".
[11] Từ Quảng Bình vào đến tỉnh Thừa Thiên, Huế có hai làng Cảnh Dương, một của Quảng Bình và một của Thừa Thiên.
[12] Thái Văn Kiểm, Le culte de la baleine, Bulletin de la Sociéte des Etudés Indochinoises. Dẫn theo Tập nghiên cứu văn hoá dân gian Thừa Thiên - Huế, 2008.
[13] Việc trình diễn và hát múa bả trạo không hoàn toàn giống nhau ở các địa phương. Loại hát múa dân gian này được cộng đồng ngư dân các vạn chài tổ chức hàng năm chủ yếu vào dịp Lễ hội Cầu ngư – Lễ tế cá Ông, ngoài ra vào dịp Lễ cúng cá Ông (Lễ Nghinh Ông) hay vào dịp Lễ đưa tang cá Ông khi cá Ông lụy trôi dạt vào vùng biển địa phương. Theo phong tục đã Việt hoá, ngư dân nào là người đầu tiên phát hiện ra Cá Ông lụy được xem như là người được Cá Ông tín nhiệm và vinh dự được làm "trưởng nam", tức là thân chủ, thay mặt vạn chài bịt khăn tang bằng vải điều và phải chịu tang trong 3 tháng 10 ngày và tiến hành xây dựng Lăng Cá Ông bên bờ biển, mặt tiền hướng ra khơi, nằm gần sát vạn chài, có kiến trúc gần giống nhau, có quy mô không lớn, mặt nền hình chữ Đinh, phân chia thành tiền đường ở phía trước là nơi để cử hành tế lễ và hậu tẩm ở phía sau là nơi đặt hài cốt Cá Ông vào quách để thờ. Trong trường hợp gặp Cá Ông lụy nhiều, không thể thờ hết trong Lăng, nên hầu hết các vạn chài ở ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng đều lập Nghĩa địa Cá Ông. Nghĩa địa này ở vạn chài Xuân Hải, xã Tam Quang, huyện Núi Thành có khoảng 70 hài cốt Cá Ông, ở vạn chài Thuận Hòa, xã Tam Hải, huyện Núi Thành có khoảng 300 hài cốt Cá Ông. Đây là một trong những Nghĩa địa Cá Ông lớn nhất của nước ta. Các lão ngư của vạn chài tự hào giải thích do bãi biển của vạn chài được thiên nhiên ưu đãi với nước biển xanh, yên sóng, cát mịn, nên Cá Ông thường dạt vào đây yên nghỉ. Trước đây, mỗi năm thường đón được hai Cá Ông lụy. Ở thị xã Hội An và các vùng lân cận, Lễ tế Cá Ông thường kết hợp với lễ Cầu mùa, lễ Cầu an vào trung tuần tháng hai âm lịch, mang tính chất tạ ơn thần thánh và cầu mong cho mùa màng bội thu, đời sống tươi vui: ở xã Cẩm An, lễ hội được tổ chức hai lần trong một năm là ngày 16–2 và ngày 16–8 âm lịch, ở xã Cẩm Kim là ngày 28–2 âm lịch. Ở huyện Duy Xuyên, xã Duy Vinh, lễ hội được tổ chức hai lần trong một năm là ngày 20–2 và 20–7 âm lịch, ở huyện Thăng Bình xã Bình Dương, lễ hội được tiến hành ngày 19–2 (mùa xuân) và ngày 16–8 âm lịch (mùa thu); ở xã Bình Hải, lễ hội tiến hành cùng lễ Xuống mùa đi biển vào ngày 15–3 và cùng lễ Tạ mùa kết thúc mùa đi biển vào ngày 20–12 âm lịch. Ở huyện Núi Thành, phần lớn các xã tổ chức lễ hội vào ngày 20–2 âm lịch, riêng ở làng chài Xuân Hải, xã Tam Quang, tổ chức lễ hội ngày 1–6 âm lịch lễ tế Cá Ông Đức Ngư ngoài các lễ hội Cầu Ngư và Cầu An hàng năm. Ở thành  phố Tam Kỳ, xã Tam Thanh tổ chức lễ hội ngày 1–4 âm lịch hàng năm và còn gọi là Lễ Cầu Bọt. Ở huyện Điện Bàn, xã Điện Dương tổ chức lễ hội ngày 24–4 âm lịch hàng năm.  Phần lớn Lễ hội Cầu ngư ở các xã  được tổ chức ở phía trước mặt Lăng Cá Ông, còn ở xã Tam Thanh thì lại được tổ chức tại cửa biển. Riêng ở xã Cẩm An, thị xã Hội An, lễ hội được tổ chức trên mặt nước ngay ở cửa biển. Ngư dân chuẩn bị lễ vật ở nhà rồi đem ra đặt trên hương án trước mũi thuyền chính để làm lễ tế. Tiếp sau đó phần hội là hát bả trạo cũng diễn ra ngay trên mặt nước bằng cách ghép các con thuyền lại với nhau. Trong những ngày Lễ hội Cá Ông, Lăng Ông được vệ sinh, quét vôi sạch sẽ, được trang hoàng hết sức rực rỡ, trang nghiêm, có kết hoa, chăng đèn. Các nhà trong vạn chài đều đặt hương án trước nhà, trên có nhang đèn, bánh trái, mâm xôi... ban đêm có treo đèn lồng. Các tàu thuyền của ngư dân trong vạn chài đều đậu ở bến, mỗi chiếc đều treo lồng đèn nhiều màu sặc sỡ, từ cột buồm đến mũi và lái đều chăng hoa. Đêm đến, trong suốt bãi bến thuyền đậu hiện ra một cảnh nhộn nhịp trong ánh sáng của đèn như một hội hoa đăng trong tiếng pháo  nổ rang. Mọi người trong vạn chài từ già đến trẻ đều ăn mặc đẹp đẽ. Trong quá trình tiếp biến văn hóa Chămpa có nguồn gốc Mã Lai – Đa Đảo, người Việt đã có những cải biến, thay đổi trong hình thức thể hiện mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc từ nghi thức tổ chức đám tang; những động tác hành lễ trong Lễ hội Cầu ngư, từ trang phục đến việc tiến hành đám rước, hát bả trạo, hệ thống vũ đạo bả trạo với cờ lọng, phướn, kiệu... hoàn toàn theo nghi thức dân tộc.


Kết quả kiểm kê, nghiên cứu Lễ hội cầu ngư ở thành phố Đà Nẵng

Hồ Tấn Tuấn-Phan Thị Mai

Đối với Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, biển chứa nhiều nguồn tài nguyên quí giá cho hành trình hội nhập và phát triển hôm nay. Gắn với vùng ven biển là nhiều cộng đồng ngư dân sinh sống, chuyên nghề đánh bắt thủy hải sản. Những cộng đồng này không chỉ có vai trò quan trọng trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của biển cũng như góp phần lớn vào việc giữ vững chủ quyền lãnh hải mà còn để lại những dấu ấn về văn hóa khá độc đáo của mình trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt, tín ngưỡng, làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể. Do đó, việc nghiên cứu về biển và cộng đồng dân cư ven biển là một việc làm mang tính khoa học, thực tiễn, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học các chuyên ngành trong và ngoài nước.
Hơn thế nữa, Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung Ương khóa X của Đảng Cộng Sản Việt Nam họp ngày 15 đến 24/1/2007 tại Thủ đô Hà Nội đã thông qua Nghị Quyết hết sức quan trọng về việc xây dựng một Chiến lược biển toàn diện. Nghị quyết đã chỉ rõ: Đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công 
nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Việt Nam phải trở thành Quốc gia mạnh về
 
biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển. Việc thực hiện
 
và triển khai Chiến lược biển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đóng vai
 
trò vô cùng to lớn do những yêu cầu của xu thế phát triển cũng như những thách
 
thức của thời đại. Sự nghiệp này đã và đang được thực hiện
 
đồng bộ trên mọi lĩnh vực: phát triển chính trị, phát triển kinh tế, hợp tác quốc
 
tế, phát triển khoa học kĩ thuật… mà một trong những vấn đề đó là nhu cầu bức
 
thiết để nâng cao ý thức về biển và văn hóa biển trên cơ sở triển khai việc xây
 
dựng một hệ thống các công trình nghiên cứu, đề xuất những giải pháp phát
 
triển văn hóa biển. Từ đó, hoàn thiện hệ thống học thuật về văn hóa
 
biển, góp phần giáo dục, tuyên truyền ý thức bảo vệ chủ quyền dân tộc, nâng
 
cao tinh thần yêu nước, mà trong đó cơ tầng văn hóa biển là không thể tách rời.
 
Việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Lễ hội cầu ngư ở thành phố Đà Nẵng” lần này sẽ chỉ ra sự tồn tại cũng như sức chi phối
 của các yếu tố văn hóa biển trong đời sống tâm linh của ngư dân vùng biển Đà Nẵng và đây cũng có thể xem là sự nỗ lực của chúng tôi trong tinh thần chung ấy của toàn Đảng, toàn Dân, toàn Quân Việt Nam trước những thách thức và yêu cầu mới của thời đại. 
Ngoài ra, Lễ hội cầu ngư – một sản phẩm văn hóa đặc trưng của cư dân vùng biển miền Trung Việt Nam, gắn với đời sống tinh thần của những con người mà cả đời gắn bó với bà mẹ trùng dương. Xa hơn nữa, nó được nhìn nhận là một cổ tục phản ánh nguyên vẹn chân dung của diễn trình giao lưu, tiếp xúc và tiếp biến văn hóa Việt trên dãi đất miền Trung đầy nắng và gió, cũng như thái độ ứng xử hòa hiếu, mang đậm chất nhân văn của tổ tiên chúng ta trong quá trình Nam tiến.
Lễ hội cầu ngư là một sinh hoạt văn hóa thường niên của cộng đồng ngư dân ven biển Đà Nẵng, là nét văn hóa vừa mang tính phổ biến trong bức tranh văn hóa dân gian Việt Nam, vừa mang sắc thái riêng của vùng văn hóa xứ Quảng, đặc biệt là Đà Nẵng.
Chính vì những lẽ đó mà Sở VH,TT&DL Đà Nẵng đã chỉ đạo TTQLDSVH thực hiện việc lập hồ sơ/ công trình nghiên cứu khoa học “Lễ hội cầu ngư ở thành phố Đà Nẵng”.
            I. KẾT QUẢ KIỂM KÊ DI SẢN LỄ HỘI CẦU NGƯ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
            Cho đến nay, công tác kiểm kê, thu thập tư liệu về “Lễ hội cầu ngư ở thành phố Đà Nẵng” đã cơ bản hoàn thành. Đội ngũ kiểm kê đã tiến hành điền dã, khảo sát toàn bộ các quận (huyện) trên địa bàn thành phố, tập trung chủ yếu ở các quận ven biển Sơn Trà, Thanh Khê, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu.
1.      Nhận diện bước đầu di sản Lễ hội cầu ngư ở thành phố Đà Nẵng
Qua công tác kiểm kê và xử lý số liệu, chúng tôi đã có những nhận diện bước đầu không chỉ về khối lượng, số lượng, thực trạng của di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội cầu ngư mà còn nhằm xác định và đánh giá giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và vai trò, ý nghĩa của di sàn này trong đời sống đương đại
a)      Về không gian văn hóa
            Hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, chúng tôi khảo sát được có 11 lăng thờ cá Ông có giá trị về mặt kiến trúc, cảnh quan, góp phần tạo nên một quần thể di sản kiến trúc tín ngưỡng mang đặc tính của biển. Các lăng thờ cá Ông phân bố chủ yếu ở các quận ven biển: Sơn Trà, Liên Chiểu, Thanh Khê, Ngũ Hành Sơn. Điều này đã phản ánh sự sùng bái, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự hiển linh của thần Nam Hải để bảo vệ ngư dân, xóm làng trong ý thức sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư.
            Mỗi lăng thờ cá Ông ở thành phố Đà Nẵng là một công trình kiến thúc tín ngưỡng mang tính nghệ thuật, thẩm mỹ cao, bố cục và đường nét được thể hiện sinh động. Một số công trình như lăng Ông Xuân Hà ở quận Thanh Khê, lăng Ông Nam Ô ở quận Liên Chiểu, lăng Ông làng Tân Lưu ở phường Hòa Hải…được xây dựng mang phong cách kiến trúc điển hình của thời Nguyễn. Đây là những công trình kiến trúc tín ngưỡng có giá trị được công nhận, bảo vệ.
             b) Lễ hội cầu ngư
            Gắn liền với không gian văn hóa lăng Ông là hoạt động lễ hội. Theo lệ cũ để lại và còn duy trì đến nay, thường niên, các làng biển đều tổ chức hai lễ tế thần là lễ tế Xuân và lễ tế Thu. Trong đó, lễ tế Xuân được đặc biệt coi trọng, tổ chức lớn.
Tiết Xuân tế thường được tổ chức từ trung tuần tháng Giêng hoặc tháng Hai âm lịch. Nghi thức cúng tế nhìn chung tương tự nghi thức cúng đình hàng năm.
Hiện nay, ở Đà Nẵng còn duy trì được 12 lễ hội cầu ngư. Hầu hết, địa phương nào có lăng Ông thì nơi đó vẫn còn duy trì lễ hội cầu ngư hàng năm, tùy theo kinh tế mà tổ chức lớn hay nhỏ.
Để đo đạc giá trị, thực trạng tồn tại của hiện tượng văn hóa phi vật thể này, ngoài sử dụng mẫu số 1 của Thông tư 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 6 năm 2010 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, chúng tôi đã tiến hành thao tác hóa cấu trúc của Lễ hội cầu ngư bằng các chỉ báo sau:
Có không gian văn hóa hay không? Có hiểu biết về vị thần biển được suy tôn hay không? Có tổ chức nghinh ông hay không? Có tế hay không? Tế bằng chữ Hán hay chữ Quốc ngữ? Có múa hát Bả trạo hay không? Có bát âm hay không? Có nghi thức xây chầu hát bội (tuồng) hay không? Còn lễ vật nào dâng thần đặc biệt không? Còn các trò chơi dân gian đặc trưng văn hóa biển trong lễ hội hay không?
Và tiêu chí đánh giá như sau:
- Loại đặc biệt đạt 10/10 thành tố
- Loại A: có 6/10 thành tố
- Loại B: không có rước
- Loại C: không có hội
- Loại D: không có rước lẫn hội
Sau khi xử lý các thông tin, chúng tôi nhận thấy có 07 lễ hội cầu ngư thuộc loại A, 03 loại C, 02 loại D.
Như vậy, có thể thấy, đa số lễ hội cầu ngư đều được tiến hành rất chu đáo, bài bản, giữ được truyền thống và có nhiều nét tương đồng với lễ hội cầu ngư của các tỉnh/thành Nam Trung Bộ khác. Đây có thể coi là một điểm mạnh.
c) Về loại hình diễn xướng dân gian gắn liền với lễ hội
- Hát Bả trạo
Hiện nay, ở thành phố Đà Nẵng không còn nhiều người biết hát Bả trạo và chỉ có duy nhất 01 đội hát Bả trạo không chuyên của ông Phạm Văn Đủ ở phường Mân Thái, quận Sơn Trà là còn duy trì hoạt động thường xuyên.
- Hát bội (hát tuồng)
Theo kết quả kiểm kê, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện có 01 nhà hát và 02 đoàn hát, nhóm hát tuồng bán chuyên nghiệp với khoảng gần 50 nghệ nhân, nghệ sĩ.
2.      Các tài liệu thu thập, sưu tầm
Chúng tôi đã sưu tầm được:
- 07 bài văn cúng Cô hồn;
- 09 bản nhạc lễ;
- 06 bản văn tế cầu an, cầu ngư;
- 06 bản hát bả trạo;
- Cùng gần 600 ảnh khảo tả và hơn 200 phút phim thô.
3. Những nghiên cứu bước đầu và mấy vấn đề tồn nghi cần trao đổi về di sản văn hóa Lễ hội cầu ngư ở thành phố Đà Nẵng
            Từ những nghiên cứu bước đầu về tài tiệu thư tịch cũng như qua kết quả đợt khảo sát điền dã, Trung tâm đã nhận thức, giải quyết được nhiều vấn đề căn bản về Lễ hội cầu ngư như quá trình tồn tại và phát triển, diễn trình tổ chức phần lễ và phần hội...Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều vấn đề băn khoăn, bỏ ngỏ chưa có đủ cứ liệu để xác tín, cần có những ý kiến đóng góp khoa học từ phía những nhà nghiên cứu, những người nắm giữ và thực hành di sản. Đó là: 
            a) Vấn đề tên gọi
            Ngoài cái tên Lễ hội cầu ngư, di sản này còn có thể được định danh như              thế nào?
            b) Sự hình thành và nguồn gốc của Tín ngưỡng thờ cá Ông
            Tín ngưỡng thờ cá Ông được hình thành khi nào và như thế nào? là câu hỏi đến nay vẫn chưa được trả lời thấu đáo.
           Nhiều ý kiến thừa nhận đây là một cổ tục của người Chăm trước đây; song cũng có một số ý kiến khác cho rằng đây là tục thờ của người Việt với dẫn              giải riêng.
Nhà nghiên cứu Thái Văn Kiểm cho rằng: “Nếu tìm về nguồn cội của tục thờ này, chúng ta thấy rằng ngay từ đầu, người Chăm đã xem cá voi như Hải Vương. Chính qua quá trình tiếp xúc với họ mà người Việt mới bắt đầu chú ý đến động vật có vú to lớn này ” [1]
Trong Nouvelles Rechercher, A. Cabaton nói rằng: “người Chàm trong nguồn tín ngưỡng của mình, đã coi Cá Ông là thần Sông và Lễ cầu ngư được tiến hành một cách đặc biệt, mà Bình Nam Đồ thời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn) khi bình nam về đã ghi chép lại, xác nhận một hội lễ quan trọng của người Chàm, sống chủ yếu bằng nghề đi biển. Sách nhắc tới địa điểm phồn thịnh nghề đánh cá lúc đó là Phố Hải có tháp Chàm được vẽ cao 8 tầng như tháp Việt, có hình ba con cá Voi ở ngoài biển quay vào, với ghi chú hằng năm vào tháng 5, cá quay về tháp [2].
Trong Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hoà, tác giả Lê Quang Nghiêm cũng thừa nhận rằng, tục thờ cá Ông xuất phát từ người Chiêm Thành và người Việt, đã tiếp nhận nó trong quá trình di cư về phương Nam. “Có thuyết cho rằng khi xưa dân Việt Nam còn ở miền Bắc, chưa tràn xuống miền Nam, thì chịu ảnh hưởng lễ giáo, văn hoá Tàu không thờ cá ông vì người Tàu không có tục này. Ngư phủ Tàu ở đảo Hải Nam và miền Nam Trung Hoa chuyên nghề săn cá ông. Đến khi dân Việt Nam di cư vào đất Chiêm Thành (từ Thanh Hoá, Nghệ An đến tỉnh Bình Định, Phan Thiết hiện thời) thì chịu ảnh hưởng của phong tục Chiêm Thành, mới có tục thờ cá ông (cá voi) theo người Chàm và sau này gọi là ông Nam Hải... [3].
Tiếp nối, kế thừa quan điểm của những người đi trước, rất nhiều nhà nghiên cứu sau này mà tiêu biểu là Nguyễn Thanh Lợi đã khẳng định trong các công trình nghiên cứu về tục thờ cá Ông của mình về nguồn gốc hình thành của tín  ngưỡng này bắt nguồn từ tục thờ thần sóng Po Riyak của người Chăm bản địa, người Việt tiếp thu và từng bước Việt hoá hoàn toàn thành tín ngưỡng của mình.
Đặc biệt, trong một khảo sát về Lễ cúng cá Ông ở Quảng Nam, tác giả Sandra Lantz cho rằng, nguồn gốc của tín ngưỡng này phổ biến ở một số nước Đông Nam Á, những quốc gia chịu ảnh hưởng bởi nền văn hoá Ấn Độ: “Truyền thống cá ông cũng có thể có gốc của đạo Hindu trước đây, bởi vì người ta nói rằng người Khmere và người Campuchia cũng tin cá Ông và họ mang nguồn gốc văn hoá Chàm” [4]
 Nhưng, mặc khác, cũng có một số nhà nghiên cứu lập luận rằng tục thờ cá đã có trong tâm thức người Việt cổ.
Trong công trình Xứ Đông Hải nhìn từ Kẻ Chợ, Trần Quốc Vượng đã cho rằng “tục thờ cá voi sau này chỉ là sự phát triển của tâm thức đó chứ không phải vay mượn của người Chăm” [5]. 
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Xuân Đức với nghiên cứu “Từ đền thờ đức ông, đức bà ở Cảnh Dương nghĩ về tục thờ cá Voi của người Việt” cũng có cùng nhận định trên “tục thờ cá Ông xuất phát từ người Việt, không kế thừa của người Chăm”[6]. Trong công trình của mình, Nguyễn Xuân Đức đã đưa ra nhiều tư liệu về tục thờ và đền thờ cá Ông ở vùng biển như Hoằng Hoá, Sầm Sơn (Thanh Hoá), Diễn Châu, Nghi Lộc (Nghệ An), Thạch Hà, Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Cảnh Dương (Quảng Bình) để chứng minh tục thờ cá voi của người Việt ở đây có từ lâu đời.
Vậy, câu hỏi được đặt ra là quan điểm nào chính xác nhất? Vì sao?
            c) Đặc trưng của tín ngưỡng thờ cá Ông nói chung và lễ hội cầu ngư nói riêng ở Đà Nẵng?
            Tín ngưỡng thờ cá Ông là một trong những biểu hiện đặc thù của văn hóa biển miển Trung Việt Nam. Ở các địa phương ven biển này đều có phổ biến một hằng số chung về quan niệm, nhận thức, cũng như cách thức biểu hiện đức tin, sự ngưỡng vọng về vị thần biển mang hình hài loài cá. Tuy nhiên, biểu hiện cụ thể tại từng địa vực cư trú lại mang những sắc thái khác biệt đáng lưu ý, phản ánh chính xác dung mạo của riêng từng vùng đất.
            Vậy, đặc trưng của tín ngưỡng thờ cá Ông nói chung và Lễ hội cầu ngư nói riêng ở Đà Nẵng có những nét gì tương đồng và dị biệt với những địa phương ven biển khác?
            d) Vai trò của Lễ hội cầu ngư trong đời sống đương đại như thế nào?
            Tại Đà Nẵng, lễ hội cầu ngư là một hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian được tổ chức thường niên và thu hút được rất nhiều sự quan tâm của đông đảo bà con nhân dân, chứ không riêng gì những người làm nghề chài lưới. Tuy nhiên, liệu trong cơn bão hội nhập văn hóa ngày nay, lễ hội này có nguy cơ bị biến đổi theo chiều hướng phai nhạt và dần quên lãng hay không? Vai trò, chỗ đứng của nó hiện nay như thế nào trong đời sống văn hóa, tinh thần người dân? Vì sao lại có thực trạng trên? Làm thế nào để lễ hội này giữ được vị thế của mình trong cuộc sống hiện đại?
            e) Mở rộng quy mô, nâng cấp của Lễ hội cầu ngư
            Trong suốt chiều dài lịch sử, Lễ hội cầu ngư có vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa, tinh thần và tâm linh của ngư dân ven biển. Hơn thế nữa, trong bối cảnh chính trị - xã hội nhạy cảm như ngày nay, vai trò của nó quan trọng hơn bao giờ hết. Rõ ràng sự hiện hữu của nó là nguồn sử liệu, là những bằng chứng vật chất và tinh thần xác thực về kinh nghiệm ứng xử với biển đảo của các thế hệ người Việt Nam. Nó đã khẳng định cả hàng trăm năm qua, dân tộc ta đã có tầm nhìn thoáng mở, luôn hướng và tiến ra biển, đã khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển và đồng thời vẫn luôn trọn vẹn khát vọng vươn khơi, bám biển, bám ngư trường để làm chủ vùng biển Đông của Tổ quốc. 
            Do vậy, bảo vệ và phát huy giá trị Lễ hội cầu ngư có ưu thế rõ rệt đối với việc phát huy giá trị văn hóa biển đảo trong sự nghiệp phát triển và đổi mới toàn diện đất nước, tích cực góp phần vào công cuộc bảo vệ chủ quyển đất nước trên biển. Chính vì lẽ đó mà chúng ta cần phải xác định đây là một nhiệm vụ chính trị lớn, cấp thiết, đòi hỏi sự tham gia giải quyết của toàn Đảng toàn dân, từ cấp Trung ương đến địa phương.
            Từ nhận thức trên, chúng tôi đề xuất phải chăng nên phục dựng, tổ chức một lễ hội cấp thành phố vừa mang tính chất cầu ngư, cầu an đầu năm và vận động ra quân đánh bắt hải sản với đầy đủ, bài bản các nghi lễ, trò diễn dựa trên nền truyền thống và bản chất vốn có của nó? Và tất nhiên, nhân dân vẫn sẽ là chủ thể chính của lễ hội, đảm bảo hội cầu ngư này là của dân, do nhân dân bảo tồn, duy trì và phát triển.
            Mặc khác, xét trên phương diện kinh tế, nếu tổ chức được một lễ hội dân gian như thế này, thành phố Đà Nẵng sẽ có thêm một sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo, hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của du khách không kém gì Lễ hội tôn giáo Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn, Lễ hội đương đại – Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế.
Hơn thế nữa, Lễ hội cầu ngư nếu được nâng cấp, được khuyếch trương, quảng bá một cách khoa học thì nó không chỉ mang lại thương hiệu văn hóa – du lịch cho thành phố mà còn đem lại những lợi ích rất rõ ràng trong phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương và cộng đồng:
- Có nguồn thu ổn định ở những dịp lễ hội, ít nhất họ cũng cân đối được khoản kinh phí mà họ phải chi cho tổ chức lễ hội (từ các nguồn: Thu phí xe máy, xe ô tô, cho thuê địa điểm dịch vụ ăn uống và giải trí và một số nguồn tài trợ khác). Nhân dân ở các cộng đồng này có công ăn việc làm. Qua đó, ý thức bảo tồn không gian văn hóa và lễ hội của cộng đồng được nâng cao hơn.
- Là cơ hội tốt để huy động nguồn lực từ các nhà hảo tâm trong việc bảo tồn và phát huy di sản.
- Dĩ nhiên, lợi ích lâu dài nhất là quảng bá hình ảnh thành phố Đà Nẵng – một thành phố nhân văn đáng sống.



[1]    Thái Văn Kiểm, 1971, “Le culte de la baleine”, tlđd tr. 12.
[2]    Dẫn theo Nguyễn Thăng Long, Cá ông trong đời sống tinh thần của cư dân biển ở miền Trang Việt Nam, Phân viên Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế, tr.133.
[3]    Lê Quang Nghiêm (1970), T ục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hoà, Trung tâm Văn bút Việt Nam, tr. 35-36.
[4] Sandra Lantz (2007),“Lễ cúng Cá Ông”, www.diva-portal.org/diva/getDocument?urn nbn se hig diva-459-1 filltext.pdf
[5] Dẫn theo, Đinh Văn Hạnh, Sự phát triển tín ngưỡng của người Việt trong quá trình di cư về phương Nam nhìn từ tục thờ cúng cá Ông, http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-to-chuc-doi-song-ca-nhan/1046-dinh-van-hanh-su-phat-trien-he-thong-tin-nguong-cua-nguoi-viet.html
[6] Dẫn theo Nguyễn Thanh Lợi, Nói thêm về tục thờ cúng cá Ông,  http://www.anthdep.edu.vn/?frame=newsview&id=120

Về nâng cấp lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn 2015-2020

Văn Thu Bích

Trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nhân dân được phát triển; nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân được nâng cao, nhiều lễ hội dân gian, lễ hội tôn giáo ở nước ta được khôi phục, tổ chức khá phong phú và đa dạng. Do đó, việc tham gia lễ hội của các tầng lớp nhân dân đã trở thành một nhu cầu chính đáng, một món ăn tinh thần không thể thiếu; góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ.
Lễ hội Quán Thế Âm là một lễ hội mang đậm tính chất văn hóa dân gian và nghi lễ Phật giáo, được diễn ra hằng năm vào ngày Vía Phật Bà Quán Thế Âm 19/2 âm lịch, tại chùa Quán Thế Âm nằm trong quần thể di tích và danh thắng Ngũ Hành Sơn. Chùa Quán Thế Âm tọa lạc dưới ngọn Kim Sơn, một trong năm ngọn núi của Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn. Thiên nhiên đã ban tặng cho thành phố Đà Nẵng năm ngọn núi Ngũ Hành có nhiều hang động kỳ bí, huyền ảo với những cảnh sắc phong phú, đa dạng làm cho những ngọn núi có những sắc thái đặc thù truyền thuyết, mang vẻ linh thiêng. Cùng với hệ thống đình chùa cổ và các di tích cổ, khu du lịch và danh thắng Ngũ Hành Sơn đã trở thành một “vùng đất thiêng” theo truyền thuyết.
Chùa Quán Thế Âm được xây dựng vào năm 1956 khi Hòa thượng Thích Pháp Nhãn phát hiện ra động Quan Âm sau chùa. Trong động có thạch nhũ mang hình dáng tượng Phật Bà Quan Âm hoàn chỉnh, cao lớn bằng người thật với tư thế an nhiên, đứng trên mình con rồng uốn khúc. Lễ hội Quán Thế Âm do chùa Quán Thế Âm tổ chức lần đầu tiên vào năm 1960; sau nhiều năm gián đoạn, đến năm 1991 mới được tổ chức lại. Ban đầu chỉ mang tính lễ hội tôn giáo tại chùa cơ sở, những năm về sau phát triển dần có sự tham gia của Ban Trị sự Thành hội Phật giáo và có thêm phần hội do UBND quận Ngũ Hành Sơn và UBND phường Hòa Hải tổ chức. Từ đó, hằng năm đến ngày Vía Phật bà Quan Thế Âm, hàng vạn đồng bào phật tử và du khách tấp nập kéo nhau về chiêm bái, tham quan; lễ hội từng bước trở thành lễ hội thường niên truyền thống tín ngưỡng Phật giáo.
Việc tổ chức lễ hội đã có nhiều giá trị to lớn đối với đời sống văn hóa tâm linh, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư cũng như đối với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng. Lễ hội đã mang lại một diện mạo mới trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng dân cư thành phố Đà Nẵng và các địa phương lân cận. Hoạt động của lễ hội tạo ra cơ hội gặp gỡ, giao lưu, xây dựng tinh thần đoàn kết giữa các thành phần dân cư, đồng thời tạo ra sự cân bằng giữa đời sống thực và thế giới tâm linh, đáp ứng nhu cầu của đông đảo đạo hữu gần xa.
Xét về giá trị kinh tế, lễ hội đã thu hút đông khách thập phương đến tham dự. Việc phát triển lễ hội để thu hút khách du lịch nằm trong chiến lược phát triển của thành phố Đà Nẵng. Với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, Đà Nẵng đang định hướng trở thành trung tâm du lịch gắn với tổng thể du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam, đa dạng hóa các loại hình du lịch, trong đó có du lịch văn hóa tâm linh. Trong tiến trình phát triển, lễ hội là kênh thông tin quan trọng để quảng bá hình ảnh thành phố.
Nhiều năm qua, lễ hội đã dành được sự chỉ đạo, đầu tư của các cấp lãnh đạo thành phố. Tuy nhiên, so với tiềm năng, giá trị lịch sử văn hóa vốn có cũng như sự chỉ đạo của thành phố, quan tâm của du khách trong và ngoài nước thì quy mô lễ hội chưa có tầm vóc tương xứng với sự phát triển kinh tế - xã hội của Đà Nẵng. Mặt khác, việc triển khai tổ chức lễ hội đã và đang gặp phải những hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến hiệu quả của lễ hội nói riêng và đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố nói chung.
Lễ hội Quán Thế Âm tuy đã tổ chức hàng chục năm nay nhưng vẫn còn ở tầm địa phương, phần lễ mang tính tôn giáo nhưng vẫn chưa có quy cũ. Phần lễ do tôn giáo đảm nhiệm song chưa thu hút được tăng, ni, phật tử tham gia mang tính tự giác nên hằng năm phải thông qua Ban Tôn giáo thành phố để vận động. Phần hội tuy có sự hỗ trợ lớn từ UBND thành phố, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng nhưng các hoạt động đều mang tính đơn điệu, các hoạt động thuần túy dân gian ở cấp thấp, chưa có sự đổi mới.
Vì vậy, việc nâng cấp Lễ hội Quán Thế Âm là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.
1.      THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI THỜI GIAN QUA

1.1. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Công tác quản lý và tổ chức lễ hội trong những năm qua đã được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân trong Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Lễ hội đã hoạt động theo đúng quy định của Nhà nước; trong đó, chịu trách nhiệm tổ chức chính là các chức sắc tôn giáo; đồng thời đã phát huy được vai trò chủ thể, năng lực sáng tạo trong tổ chức của nhân dân.
- Lễ hội Quán Thế Âm được đánh giá là một lễ hội tôn giáo được tổ chức ở quy mô lớn ở khu vực miền Trung; được đầu tư tổ chức trang trọng, công phu thu hút được nhiều tăng, ni, phật tử trong và ngoài nước về dự, để lại dấu ấn tốt đẹp cho du khách gần xa.
- Các hoạt động của lễ hội đã góp phần quảng bá được hình ảnh của thành phố Đà Nẵng cùng với Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn.
- Hoạt động của lễ hội đã góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần của nhân dân trên địa bàn thành phố và trong khu vực.
- Công tác tổ chức lễ hội đã đi vào nề nếp, có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà chùa và chính quyền địa phương. UBND quận Ngũ Hành Sơn phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng kế hoạch, kịch bản, đồng thời đảm nhận nhiệm vụ tuyên truyền, quảng bá. Công tác an ninh trật tự, lễ tân, hậu cần, vệ sinh môi trường, hoạt động lễ hội do UBND quận Ngũ Hành Sơn phối hợp các ban, ngành chức năng của thành phố, quận thuộc Đà Nẵng đảm nhận.
- Cơ sở vật chất tại khu vực diễn ra lễ hội ngày càng được đầu tư nâng cấp. Trình độ tổ chức và quản lý lễ hội tại địa phương đã từng bước được nâng lên. Công tác tuyên truyền được đổi mới với nhiều hình thức phong phú như thông tin về lễ hội lên website, tuyên truyền quảng bá lễ hội gắn với quảng bá tiềm năng du lịch thành phố…
- Nhiều hoạt động đặc sắc được tổ chức, thu hút sự tham gia đông đảo du khách như: Lễ Khai kinh, Thượng kỳ, Thượng phan, Lễ Tế Xuân cầu Quốc thái - Dân an, Lễ Rước ánh sáng, Lễ Rước Tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm… Các nghi lễ theo nghi thức Phật giáo được thực hiện trang trọng đã để lại dấu ấn tốt đẹp đối với hàng vạn đồng bào phật tử, du khách đến chiêm bái và tham quan.
- Là một lễ hội tôn giáo tâm linh nhưng đã được dư luận xã hội đánh giá là một lễ hội ít xảy ra hiện tượng mê tín dị đoan, đốt vàng mã, lên đồng bói toán... Lễ hội đã góp phần vào việc tuyên truyền giáo dục nếp sống văn hóa - văn minh đô thị cho các các tầng lớp nhân dân khi tham gia lễ hội.
- Ban Tổ chức Lễ hội đã đầu tư, nghiên cứu và tổ chức thường xuyên nhiều hoạt động phần hội phong phú đa dạng, sáng tạo, thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự phối hợp đồng bộ giữa quận và các ngành chức năng của thành phố. Đặc biệt là các chương trình khai mạc, bế mạc có sự tham gia của các đơn vị văn hóa chuyên nghiệp trong và ngoài thành phố. Các hoạt động như: Hội thi sáng tác đá nghệ thuật, Triển lãm nghệ thuật điêu khắc đá và tranh du lịch thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, thư pháp, thiền trà, hát hò khoan đối đáp, giao lưu thơ nhạc, ẩm thực, hội hoa đăng, thiên đăng. Ngoài ra, tổ chức các hoạt động thể thao truyền thống như: giải đua thuyền, hội thi kéo co, đẩy gậy, đô vật… Các hoạt động đã được tổ chức chu đáo, thu hút sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân, tạo nên ấn tượng tốt đẹp đối với du khách.
- Lễ hội đã mang lại nguồn thu lớn, tăng thu nhập cho nhân dân địa phương, đóng góp nhất định trong việc tu bổ, tôn tạo chùa Quán Thế Âm cũng như công tác tổ chức lễ hội những năm tiếp theo.

1.2. NHỮNG MẶT HẠN CHẾ
- Trong việc tiến hành các phần lễ theo nghi thức tôn giáo, sự phối hợp tổ chức chưa chặt chẽ, chưa tạo được sự đồng tình hưởng ứng cao, mang tính tự giác của Ban Đại diện Phật giáo quận Ngũ Hành Sơn và Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Đà Nẵng; hằng năm phải thông qua Ban Tôn giáo thành phố để đôn đốc, làm cho công tác tổ chức, điều hành lễ hội gặp một số khó khăn, hiệu quả chưa cao.
- Chưa triển khai công tác xã hội hóa, vận động các nguồn lực xã hội tham gia đóng góp cho tổ chức lễ hội chưa được đầu tư đúng mức; chưa có cơ chế cụ thể cho các tổ chức và cá nhân tham gia tài trợ. Công tác tài trợ chưa thực sự góp phần làm cho nội dung chương trình lễ hội phong phú, hấp dẫn mà chỉ chú trọng đến việc quảng cáo thương hiệu của cá nhân doanh nghiệp.
- Việc tuyên truyền, quảng bá về lịch sử, giá trị của quần thể danh thắng trong hoạt động lễ hội chưa được chú trọng. Thông tin cụ thể về lễ hội chưa được tuyên truyền rộng rãi đến đông đảo du khách, đặc biệt là du khách ở các địa phương khác. Công tác trang trí không gian lễ hội còn sơ sài, chưa hấp dẫn, sinh động.
- Kịch bản lễ hội tuy đã có phần chuyên nghiệp hơn nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách, còn nhiều bất cập, không mới lạ, thiếu hấp dẫn, nhiều nội dung hoạt động lễ hội chưa phù hợp.
- Do chưa có quy chế tổ chức lễ hội độc lập nên công tác quản lý và tổ chức lễ hội chưa khoa học và đồng bộ. Các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương vẫn còn nhiều hạn chế trong việc phân công cụ thể chức năng, nhiệm vụ và lực lượng giám sát, xử lý những đối tượng bán hàng rong, chim, cá phục vụ khách có nhu cầu phóng sinh, các điểm giữ xe tự ý nâng giá vé sai quy định, người bán hàng rong chèo kéo khách.
- Các hoạt động văn hóa truyền thống còn nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu thưởng thức của du khách. Các hoạt động văn hóa mới chưa được đầu tư thích đáng. Một số hoạt động văn hóa lần đầu tiên đưa vào tổ chức nên còn lúng túng, bị động, hiệu quả không cao.
- Không gian lễ hội hạn hẹp nên có hiện tượng quá tải về lượng khách tham gia, dẫn đến tình trạng lộn xộn, ùn tắc giao thông. Sản phẩm du lịch, đồ lưu niệm đơn điệu, nghèo nàn về mẫu mã, chưa có sản phẩm đặc trưng địa phương nên chưa hấp dẫn du khách.

2. NHỮNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Qua thực tế diễn biến hoạt động của Lễ hội Quán Thế Âm - Ngũ Hành Sơn thời gian qua, để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội trong giai đoạn tiếp theo, cần chú trọng các giải pháp sau:

2.1. Công tác tổ chức và quản lý lễ hội
Lễ hội là hoạt động đa ngành, do vậy cần nâng cao nhận thức của cấp uỷ, chính quyền, các ban ngành đoàn thể các cấp về trách nhiệm đối với công tác quản lý và tổ chức lễ hội.

2.1.2. Nguồn kinh phí tổ chức; cách quản lý, sử dụng
- Nguồn kinh phí tổ chức lễ hội phải dựa vào nhiều nguồn khác nhau như: nguồn từ ngân sách thành phố; nguồn từ tài trợ của các tổ chức kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp, nguồn đóng góp, cúng dường của phật tử thập phương…
- Nguồn ngân sách chỉ dành cho việc đầu tư trùng tu, tôn tạo khu di tích danh thắng, các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các hoạt động sự nghiệp văn hoá, chương trình phát triển du lịch trên địa bàn hoặc hỗ trợ cho kinh phí tổ chức công tác bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường…
- Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động các nguồn lực để tổ chức các hoạt động lễ hội thông qua sự đóng góp, tài trợ của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp du lịch - thương mại (được hưởng lợi từ lễ hội); các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên lễ hội; hoặc một phần tiền từ công đức…
- Tăng cường các giải pháp về nguồn thu; thực hiện minh bạch hóa tài chính; quản lý và sử dụng nguồn công đức, dịch vụ đúng mục đích, hiệu quả cho công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy di tích. Di tích được khang trang thì lễ hội mới có cơ sở vật chất đáp ứng và thu hút đông đảo du khách.

2.1.3. Xây dựng nếp sống văn hóa - văn minh
- Thông qua các hoạt động lễ hội, tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa - văn minh trong lễ hội. Làm cho nét đẹp của lễ hội để lại ấn tượng tốt đối với đạo hữu, các tầng lớp nhân dân và du khách thập phương.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động dịch vụ văn hóa; đề ra các giải pháp ngăn chặn các tệ nạn: bán các loại ấn phẩm mê tín dị đoan, sách không có nguồn gốc xuất bản, bói toán, xin xăm, đốt vàng mã tại lễ hội, các hoạt động lợi dụng tuyên truyền đạo trái phép. Khuyến khích các hoạt động văn hóa có nội dung nhân văn, có giá trị giáo dục cao, phù hợp với truyền thống văn hóa của địa phương và dân tộc.
- Cần có những chính sách hỗ trợ, biểu dương và khuyến khích những điển hình cá nhân, tập thể thực hiện tốt quy chế tổ chức lễ hội.

2.1.4. Xây dựng cơ sở vật chất
- Cần xây dựng chiến lược nâng cấp cơ sở vật chất của lễ hội gắn với việc phát triển Công viên văn hóa Ngũ Hành Sơn, tạo ra sự phát triển đồng bộ và hài hòa với các phân khu chức năng trong Đồ án Quy hoạch chi tiết Khu lễ hội danh thắng Ngũ Hành Sơn như: Khu hành lễ, Khu làng hành hương, Khu công viên tượng...
- Phát triển hạ tầng giao thông, hệ thống lưu trú, khu vệ sinh công cộng, bãi đậu xe… để tạo điều kiện cho khách lưu trú trong dịp lễ hội.
- Nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất trong khuôn viên chùa Quán Thế Âm, tương xứng với sự phát triển lễ hội thời gian tới.

2.1.5. Phát triển nhân lực
- Chú trọng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ tham gia các hoạt động lễ hội. Cần xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên trách có tinh thần trách nhiệm, kinh nghiệm quản lý và tổ chức lễ hội, đặc biệt là đội ngũ viết kịch bản lễ hội. Nếu chưa xây dựng kịp thời thì cần có sự liên kết với các cơ quan chuyên môn, chuyên gia trung ương hỗ trợ viết kịch bản.
- Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quy chế quản lý khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng và phát triển lễ hội lâu dài.
- Xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có những hiểu biết cụ thể về lễ hội, đặc biệt là xây dựng các truyền thuyết liên quan đến lễ hội và khu danh thắng nhằm tuyên truyền quảng bá thông tin quan trọng, hấp dẫn, thuyết phục du khách.

2.1.6. Tuyên truyền, quảng bá
- Chú trọng công tác quảng bá hình ảnh lễ hội đến các địa phương khác, đặc biệt là các địa phương có du khách sùng bái đạo Phật như: Huế, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh…Việc quảng bá phải theo hướng chuyên nghiệp hóa. Khi năng lực cán bộ địa phương chưa đủ thì phương án hiệu quả nhất hiện nay là cần sự hỗ trợ của các công ty tổ chức sự kiện.
- Với đặc thù là lễ hội tôn giáo, lễ hội cần được quảng bá qua hệ thống các kênh thông tin truyền thống của Phật giáo trong cả nước nhằm thu hút sự quan tâm của các du khách sùng bái đạo Phật. Cần lập một website riêng quảng bá hình ảnh lễ hội.
- Xây dựng tài liệu, ấn phẩm giới thiệu lễ hội; tổ chức kinh doanh các sản phẩm lưu niệm của di tích, khuyến khích tư nhân tham gia khai thác các sản phẩm du lịch và văn hóa tại khu danh thắng Ngũ Hành Sơn và lễ hội; thiết lập các cụm panô cổ động, áp phích về lễ hội; hoàn thành hệ thống sơ đồ, bảng chỉ dẫn các hoạt động diễn ra tại khu vực lễ hội nhằm tạo sự thoải mái, thuận lợi cho du khách.
- Vận động cuộc thi sáng tác các loại hình văn hóa nghệ thuật (thơ, ca, nhạc, họa, điêu khắc, kịch, múa…) lấy cảm hứng từ đạo Phật để đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa mang màu sắc Phật giáo cũng như khai thác các mảng truyền thuyết, triết lý và cảnh trí liên quan đến truyền thuyết Phật bà Quan Thế Âm để du khách được thực tế thưởng ngoạn…
- Xây dựng, thống nhất logo, con dấu, nội dung các áp phích, huy hiệu của Ban Tổ chức lễ hội nhằm tạo ra hình ảnh truyền thống để quảng bá cho lễ hội.
- Thời gian đầu, cần tập trung giới thiệu, công bố kế hoạch, lịch lễ hội định kỳ hằng năm qua các kênh khác nhau như: tổ chức họp báo; in tập gấp, tờ rơi, áp-phích phát hành đến các hãng lữ hành, các đơn vị hoạt động du lịch, các khu, điểm du lịch, các hội chợ, các hoạt động du lịch - văn hóa, các văn phòng đại diện trong và ngoài nước; đưa lịch lễ hội lên các website của thành phố, các doanh nghiệp du lịch.
- Chú trọng đến việc tuyên truyền, cổ động trực quan trên đường phố, khu danh thắng và đoạn đường có khách tham quan. Vận động các khách sạn trên địa bàn hưởng ứng treo các khẩu hiệu, băng rôn có thông tin về lễ hội.
- Tại chùa Quán Thế Âm cần dựng bia ghi lại truyền thuyết về Đức Phật Quan Thế Âm nhằm thu hút sự quan tâm và ngưỡng mộ của du khách khi đến tham quan, vãn cảnh.
- Cần có những thiết kế trang trí sinh động, đặc biệt là trang trí phụ trợ cho các trò chơi dân gian; tạo ra các mô típ trang trí hoành tráng, mang đậm yếu tố truyền thống và yếu tố Phật giáo; đảm bảo khâu âm thanh, ánh sáng giúp lễ hội sinh động, hấp dẫn về đêm.

2.1.7. Công tác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn vệ sinh thực phẩm
- Xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự, tập trung vào công tác bảo vệ lãnh đạo, nhân dân tham gia lễ hội; củng cố đội an ninh trật tự tham gia công tác tổ chức lễ hội; tăng cường phối hợp với an ninh phường, quận và thành phố dưới sự chỉ đạo của Công an thành phố; rà soát các đối tượng xấu để có các biện pháp hiệu quả nhằm đảm bảo an ninh trật tự lễ hội; chống tăng giá, ép giá các dịch vụ giữ xe; phòng, chống cướp giật, trộm cắp cổ vật, tài sản của nhà nước, công dân.
- Có kế hoạch phòng, chống cháy nổ trong suốt quá trình diễn ra lễ hội cũng như những ngày thường nhằm bảo vệ các giá trị văn hóa vật thể của lễ hội.
- Quy hoạch hàng quán dịch vụ, khu bán hàng lưu niệm, khu ẩm thực chay... hợp lý để đảm bảo, tạo cho người dân tăng thu nhập nhưng phải tuyên truyền giáo dục xây dựng tác phong lịch thiệp, văn hóa trong hoạt động dịch vụ và giao tiếp ứng xử với du khách, đảm bảo tính chất thiêng của lễ hội. Đưa những người bán hàng rong vào trong một khu vực nhất định để dễ quản lý, tránh những hoạt động tiêu cực và phản văn hóa.
- Xây dựng kế hoạch cụ thể đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống dịch bệnh: vệ sinh nguồn nước, xử lý rác thải, đặt trạm sơ cứu tại chùa; tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh thực phẩm.

2.1.8. Công tác xã hội hóa
- Xã hội hóa lễ hội theo hướng: Nhà nước hoàn chỉnh quy hoạch, kế hoạch; hướng dẫn kỹ năng quản lý và kỹ năng thực hành cho người dân; tu bổ, tôn tạo di tích tiêu biểu; tuyên truyền, tập huấn cho người dân địa phương tham gia các hoạt động lễ hội; nghiên cứu và hướng dẫn người dân sản xuất sản phẩm lưu niệm theo hướng chuyên nghiệp hóa, có giá trị thẩm mỹ cao, mang đặc trưng lễ hội; hỗ trợ phục dựng, nâng cấp lễ hội; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Vai trò của người dân: đóng góp trí tuệ, sức lực và vật lực; chấp hành nghiêm chỉnh sự điều hành của Ban Tổ chức lễ hội; bố trí lực lượng thực hiện kịch bản lễ hội; tham gia giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh; đẩy lùi các hoạt động mê tín dị đoan, phản văn hóa; giữ gìn vệ sinh môi trường, trang trí nhà cửa, hàng quán…
- Huy động sự tài trợ của các nguồn lực xã hội tham gia tổ chức lễ hội. Xây dựng cơ chế minh bạch cho hoạt động tài trợ. Căn cứ theo mức đầu tư của nhà tài trợ cần có những phân mức quyền lợi cụ thể. Ngoài khen thưởng, cần xây dựng cơ chế xử phạt, phê bình đối với đơn vị tài trợ vi phạm, tránh tình trạng thiếu quản lý công tác tài trợ.
- Tạo điều kiện để người dân trên địa bàn tham gia tổ chức lễ hội, phát triển đội ngũ tình nguyện viên (phật tử, sinh viên, nhân dân địa phương…), đặc biệt là đội ngũ thuyết minh viên, hướng dẫn du khách tham gia các hoạt động diễn ra tại lễ hội.
- Học tập kinh nghiệm mô hình quản lý di sản văn hóa của Hội An nhằm tạo cho người dân trên địa bàn hưởng ứng, tham gia lễ hội; đồng thời là người hưởng lợi trực tiếp từ di sản văn hóa để người dân có ý thức trách nhiệm đóng góp vào việc bảo tồn và phát triển lễ hội. Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn sản xuất các sản phẩm, hàng lưu niệm quảng bá hình ảnh lễ hội.

3. Các nội dung lễ hội
3.1. Phần lễ
- Lễ hội Quán Thế Âm - Ngũ Hành Sơn là lễ hội tôn giáo nên phần lễ phải đảm bảo theo nghi thức Phật giáo nhưng cần có sự thay đổi để tạo ra sự hấp dẫn. Tuy nhiên, sự thay đổi đó không làm mất đi tính chất truyền thống, đặc thù; đảm bảo sự tôn nghiêm và phản ánh được đặc trưng văn hóa của địa phương.
- Xây dựng nghi lễ đúng mục đích, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, mang đậm yếu tố tâm linh, tạo được tình cảm tín ngưỡng và ấn tượng sâu sắc. Phát triển những nghi lễ đặc trưng, lược bỏ những thủ tục rườm rà, phi tín ngưỡng.
- Có những biện pháp thu hút những người có uy tín và năng lực thuyết giảng giáo lý Phật giáo nhằm thu hút sự quan tâm của du khách. Khai thác niềm tin tín ngưỡng nhưng không quá sa đà, dẫn đến hiện tượng mê tín dị đoan.
- Chú trọng đến việc trang phục hành lễ, trang bị đạo cụ cho phần lễ, nghiên cứu cấu trúc chương trình lễ hội thông qua các nghi trình nghi lễ cúng bái.

3.2. Phần hội
- Nội dung phần hội mang đậm tính nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc, gồm các hoạt động văn hóa dân gian xen lẫn các hoạt động văn hóa hiện đại để đáp ứng được tâm lý tiếp nhận đa dạng của du khách.
- Phần hội phải có những hoạt động giới thiệu về truyền thuyết, phật tích của Bồ tát Quán Thế Âm liên quan đến nguồn gốc, lịch sử Lễ hội. Khôi phục và tổ chức các trò chơi dân gian đặc trưng. Tuy nhiên, đây là lễ hội tôn giáo nên việc khai thác phần hội phải mang màu sắc tâm linh Phật giáo. Việc tổ chức các trò chơi dân gian cần đảm bảo sinh động, hấp dẫn, kèm theo hỗ trợ của âm thanh, ánh sáng và đạo cụ. Nơi tổ chức trò chơi phải rộng rãi, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho du khách tham gia trò chơi, đồng thời tăng kinh phí và đổi mới hình thức trao giải thêm phần trang trọng.
- Tổ chức lễ hội theo hướng chú trọng đến vai trò của du khách. Qua đó, tạo ra sự hào hứng cho du khách, làm cho họ trở thành chủ thể của lễ hội chứ không đơn thuần là khách thể và sẽ giảm được gánh nặng tổ chức, đồng thời tạo ra không khí gần gũi, vui vẻ.
- Tổ chức kết hợp các hoạt động của lễ hội với hoạt động văn hóa, thể thao của quận Ngũ Hành Sơn, tạo thêm tính chất hoành tráng, thu hút sự quan tâm của du khách, đồng thời tiết kiệm kinh phí tổ chức.


Việc nâng cấp lễ hội đúng hướng sẽ mang lại hiệu quả thiết thực đối với đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố, góp phần phát huy giá trị lịch sử văn hóa của di tích; đồng thời cũng là biện pháp gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa tâm linh, tín ngưỡng tốt đẹp vốn có của lễ hội.