Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

Tính bông đùa, trào phúng trong ca dao xứ Quảng



Đinh Thị Hựu

Tính bông đùa, trào phúng không phải là tính mới lạ trong ca dao. Ca dao cả nước cũng có nhiều bài bông đùa trào lộng rất hay. Ở đây, chúng tôi muốn giới thiệu một mảng ca dao chưa được ghi chép trong các sách sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian ở Quảng Nam, Đà Nẵng.
          So với lịch sự dân tộc, Quảng Nam là đất mới. Vùng đất đó có khá nhiều đặc điểm về lịch sử, văn hóa cũng như văn học dân gian. Sưu tầm nghiên cứu ca dao vùng này, chúng ta thấy ca dao bông đùa chiếm một tỷ lệ khá cao. Phải chăng điều này có lý do của nó?
          Về lịch sử đất Quảng Nam chính thức được công nhận trong bản đồ dân tộc từ năm 1307 với việc đổi hai châu Ô và Lý thành châu Thuận và châu Hóa . Địa danh Quảng Nam bắt đầu có từ thời Hồng Đức thứ 2(1471) dưới triều Lê Thánh Tông. Quảng Nam có quá trình phân bố dân cư phức tạp, lâu dài trên đường Nam tiến. Ngoài một số quan quân do nhà nước phong kiến bấy giờ cắt cứ vào Nam cai quản vùng đất mới, phần lớn còn lại họ là những người lao động được chiêu mộ đi khai khẩn, là những lưu dân bị lưu đày, là những quan quân bất mãn với triều đình... Nên hành trang của họ vào vùng đất mới có lẽ không gì khác hơn là nghị lực cứng cỏi, là tính cách ngang tàng và đặc biệt là tinh thần lạc quan yêu đời. Họ “tin ở sức mình, tin ở thiên nhiên và tin tưởng ở tương lai”. Tính bông đùa trào phúng đã trở thành hành trang không thể thiếu trong cuộc sống đầy khó khăn gian khổ của những người đi lập nghiệp trên một vùng đất mới.
          Cùng tồn tại với những bài ca dao trào lộng, châm biến biếm của cả nước như thầy cúng tham ăn, thầy bói nói dựa hay những cảnh đời éo le của những cặp vợ chồng thời phong kiến, ca dao trào lộng xứ Quảngcàng đi sâu khai thác nhiều đề tài khác nhau như: tình yêu nam nữ, hôn nhân và gia đình, đấu tranh chống phong kiến, chống đế quốc, thực dân... và trong mỗi đề tài tiếng cười thường được biếu hiện với những cung bậc khác nhau.
          Ở cung bậc thấp, ca dao trào lộng xứ Quảng là tiếng cười vui vẻ hồn nhiên thoải mái, góp phần làm cho cuộc sống thêm vui tươi sinh động:
- Có phải bánh không chân nên anh gọi bánh bò
Anh mà đối đặng em cho ngồi gần
-Thúng bánh anh đầy sao em gọi là bánh ít
Anh đối đặng rồi em ngồi xít lại đây
- Gặp anh Ba đây khiến hỏi anh Ba
Lâu nay làm ăn khấm khá hay cũng sát da như bọn mình
- Thời buổi bây giờ công việc sớt sưa
Dư không dư, thiếu không thiếu, cũng đu đi như mọi ngày.
          Trong quan hệ xã hội, người Quảng Nam thường được ca ngợi là chân thật, tình nghĩa và thường được nhìn nhận là thẳng thắn, bộc trực. ca dao bông đùa cũng thể hiện tính cách ngang tàng, bướng bỉnh của con người xứ Quảng. Không phải ngẫu nhiên mà dân gian có câu “Quảng Nam hay cãi”. Họ hay cãi là vì cương trực, ngang tàng, không chịu ép mình theo những khuôn khổ của trật tự phong kiến. Nhiều nhà nghiên cứu văn hoá học ở nước ta cũng thường cho rằng người Quảng Nam hay gàn và thích lý sự, đôi khi lý sự một cách dí dỏm:
          - Ông già tui chẳng ưa đâu
          Hàm răng ông rụng, chòm râu ông dài.
          - Con tôm con tép còn râu
          Huống chi em bậu câu mâu sự đời
Thương nhau vừa dặm vừa dài
Cắn rứt chi đó mà đòi hàm răng?
Hình như người Quảng Nam rất thích bông đùa và có thể bông đùa trong mọi hoàn cảnh. Ngay cả trong những hoàn cảnh đau khổ nhất như bị phụ tình, đoạn tình, người Quảng Nam vẫn tâm sự một cách bông đùa:
          - Thiên minh minh, địa minh minh
          Có con không gả cho mình
          Mai sau trồng bí mình rình dứt dây...
Ở cung bậc thấp, nội dung nhiều bài ca dao chỉ là lời bông đùa, trêu ghẹo thách đố nhau giữa các đôi nam nữ, chủ yếu là để tạo tiếng cười hồn nhiên, vô tư, vui vẻ. Tuy nhiên, đôi khi cũng có quá đà, nội dung đáp lại trở nên gay gắt, lời ca dao trở thành lời châm chọc sâu cay:
          - Hai bên rừng núi rậm rì
          Ở giữa có khu nước chảy anh đi đường nào?
          - Hai tay anh nương hai cái cù lao
          Nước chảy mặc nước anh cứ chống sào anh qua
          - Em liều một nắm bắp khô
          Đố anh tỉa mọc em vô kẹt nguyền
          - Trời mưa ba năm không ướt
Trời hạn sáu thángkhông khô
Em không cho anh tỉa chớ anh tỉa vô mọc liền.
- Sáng trăng quân tử dạo chơi
Đái cho chỗ đái bơi bơi trở về
- Em ơi! Em nói chi mà nói dại nói khờ
Nồi hương em trôi trước bàn thờ em trôi sau.
          Trong truyện cười dân gian Việt Nam cũng như trong ca dao bông đùa thường có yếu tố tục. Yếu tố tục ở đây được lý giải như một sự hồn nhiên, chân chất, mộc mạc của người bình dân. Đồng thời, đó cũng là một mặt của sự biểu hiện tinh thần phản phong, chống lại bộ mặt đạo đức giả của lễ giáo phong kiến. Nhưng công bằng mà nói, yếu tố tục không phải là cái đáng khuyến khích trong văn học, dù yếu tố đó được vận dụng với mục đích gì. Đinh Gia Khánh đã rất có lý khi nói rằng “Văng tục với kẻ thù không phải là biện pháp tốt nhất để thắng nó”. Những câu ca dao lạm dụng yếu tố tục đều không được người nghe ưa thích nên thường dễ bị lãng quên  theo thời gian.
Nói đến ca dao bông đùa, trào phúng Quảng Nam, chúng ta cần chú ý một mảng ca dao mang tính chiến đấu cao, nó dùng tiếng cười như một công cụ để giáo dục hay một phương tiện để đấu tranh. Đối tượng phê phán là những thói hư tật xấu và những con người mang thói hư tật xấu đó. Tùy từng mức độ của thói hư và từng loại đối tượng mà tác giả dân gian sử dụng vũ khí tiếng cười với những cách thức và thái độ khác nhau. Có thể đó là thái độ giáo dục đối với những tật xấu trong nội bộ nhân dân như thói  lười biếng, tham ăn, hèn nhát, dục vọng:
- Lúc nắng thì lại đi chơi
Đến khi tối trời đổ lúa vô rang
- Lúc hui lui húc trong nhà
Ăn bốc ăn hốt ú na ú nần.
Hay sự phê phán một thói đời:
- Đói cơm lạt mắm lem hem
No cơm ấm cật lại thèm nọ kia.
Đôi khi họ cười chính bản thân mình để phê phán một thói quen nên bỏ:
- Tiếng đồn con gái Quảng Đà
Mất mùa thuốc lá chết ba ngàn người.
Trong nội dung này, ca dao trào phúng như một viên thuốc đắng giã tật giúp chữa bệnh một cách công hiệu trong nội bộ nhân dân.
Ở cung bậc cao, tiếng cười sử dụng như một vũ khí sắc bén chống kẻ thù giai cấp và kẻ thù xâm lược.
Với tinh thần phản phong mạnh mẽ, nhân dân xứ Quảng thường phát biểu thẳng thắn quan niệm của mình đối với lễ giáo phong kiến:
- Ngó lên trên rừng thấy cặp cu đang đá
Ngó về dưới biển thấy cặp cá đang đua
Biểu anh về lập miếu thờ vua
Lập lăng thờ mẹ, lập chùa thờ cha.
- Chữ trung, chữ hiếu, chữ hoà
Đố anh ba chữ thờ cha chữ nào?
Chữ trung anh để thờ cha
Chữ hiếu thờ mẹ, chữ hòa thờ em.
“Chữ trung anh để thờ cha”, không phải ngẫu nhiên mà người Quảng Nam nói đến điều đó. Trong nhiều thế kỷ, lễ giáo phong kiến đã ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người Việt. Việc xa dần và muốn thoát khỏi sự cương tỏa của lễ giao phong kiến cũng là một sự tiến bộ đáng kể trong đời sống văn hóa tinh thần người dân xứ Quảng. Con người Quảng Nam, con người của một vùng đất được hình thành từ những biến động lớn lao của lịch sử dân tộc, nên tình cảm của họ thường cũng rất sôi động và mãnh liệt:
Trai năm thê bảy thiếp
Gái chính chuyên ba mươi sáu thằng chồng
Mười thằng đem nhận biển đông
Mười thằng đem đổ xuống sông băng hà
Mười lăm thằng đem bỏ ngã ba
Một thằng kết nghĩa giao hòa ngàn năm.
 Ca dao trào phúng xứ Quảng lên tiếng đấu tranh với toàn bộ trật tự phong kiến như vua, quan, địa chủ lẫn cả hệ thống lễ giáo phong kiến cùng những con người đại diện cho hệ thống lễ giáo đó như thầy tu, thầy đồ, thầy lang, thầy địa:
- Lâu ngày thầy địa tới thăm
Giũ mùng, trải chiếu, thầy nằm nghỉ lưng
- Bói cho một quẻ trong nhà
Chuồng heo ở dưới, chuồng gà ở trên.
Trong phong trào chống sưu thuế, tô tức ở Quảng Nam, nhiều bài ca dao đã lên tiếng đấu tranh gay gắt với sự bóc lột của chế độ phong kiến nhà Nguyễn và chính quyền thực dân:
- Tằm ơi tằm chẳng ăn dâu
Ăn đất, ăn ruộng, ăn trâu, ăn nhà.
Trong kháng chiến chống Pháp. Ca dao xứ Quảng cũng như ca dao trong cả nước đã chuyển sang một thời kỳ mới. Nếu trong thời kỳ này ca dao trữ tình xứ Quảng có thêm một nhân vật trữ tình mới đó là hình ảnh người dân mất nước thì ca dao trào phúng xứ Quảng cũng có thêm một đối tượng mới để châm biếm, đả kích đó là quân xâm lược Pháp và tay sai:
- Cắc bụp cắc bụp xòa
Ba thằng bảo vệ bắt ga bắt heo
Cắc bụp cắc bụp xèo
Ba thằng bảo vệ bắt heo bắt gà
 Trong kháng chiến chống ngoại xâm, ca dao trở thành một vũ khí sắc bén lợi hại để đấu tranh chống kẻ thù. Nhiều bài ca dao hay và có giá trị ra đời để đáp ứng những yêu cầu của mọi thời đại mới.
Ca dao về chủ đề chống phong kiến, chống đế quốc đã chiếm một vị trí khá quan trọng trong số tư liệu văn học dân gian sư tầm được ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Đó là tiếng nói thiết tha và lòng yêu nước nồng nàn của người dân xứ Quảng trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
Ca dao vốn sinh ra từ cuộc đời trăm đắng ngàn cay, nhưng cái đắng cay không sao vùi dập được cái ngọt ngào, vui tươi của con người Việt Nam. Ca dao Quảng Nam gắn bó mật thiết với cuộc sống lao động chiến đấu của con người xứ Quảng. Tiếng cười với nhiều cung bậc khác nhau trong ca dao đã mang lại cho nhân dân xứ Quảng thêm niềm tin, sức mạnh, cổ vũ họ vững bước trên con đường dài đấu tranh cho sự tiến bộ của xã hội.

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Nghề làm rượu t'vạc


Hòa Vang


          T’vạc là một loại rượu khá đặc biệt, tại Quảng Nam, có lẽ duy nhất các huyện miền núi Đông Giang, Tây Giang (huyện Hiên cũ), Nam Giang (huyện Giằng cũ), Phước Sơn có cây t’vạc sinh sống tự nhiên trong các khu rừng. Cây t’vạc còn gọi là cây đoác. Người dân C’tu khai thác nước cây t’vạc làm thành rượu gọi là Rượu T’vạc.
          T’vạc là loại cây mọc hoang, thân to và cao như cây dừa, cánh là gần giống như cây dừa, nhưng mềm hơn và vươn lên thẳng, không lã ngọn như dừa. Tà vạc đến tuổi trưởng thành thì trổ bông, bông phân bố từ thân lên đến ngọn. Mỗi buồng có nhiều chùm trái nhỏ bằng trái cà phê trĩu xuống, đôi khi sà xuống tận gốc.
          Về rượu T’vạc của người C’tu, theo các già làng cao niên và bà con người dân C’tu ở huyện Nam Giang kể rằng:
“Ngày xưa tại một rấy nọ có một lùm cây t’vạc sống chen kẽ với một số loại cây khác, cây t’vạc tỏa lá ra che được một khoảng đất có bóng mát. Để có chỗ nghỉ ngơi, trú ngụ lúc nắng mưa trong những ngày làm rẫy, bà con dọn dẹp gai góc, rác rửi, vun gốc cho cây. Sau mùa rẫy, khi cây lúa, cây bắp sắp đến kỳ thu hoạch, những bầy khỉ kéo đến, chuyền xuống nương rẫy, phá hại hoa màu. Để bảo vệ mùa màng, ba con C’tu đành phải chặt bỏ các bụi lùm, các cây cao khác để không còn phương tiện cho khỉ chuyền xuống. Cây t’vạc vì đẹp lại có bóng mát, không cành nhánh nên khỉ không chuyền nên bà con giữ lại. Thế nhưng sau đó, các con khỉ lại bâu vào các buồng trái t’vạc và chuyền xuống đất để phá hại hoa màu. Đàn khỉ đông thường xuyên nhảy nhót, bám víu ngày này sang ngày khác làm cho các lá ngọn cây t’vạc bầm dập. Bà con bèn dọn dẹp, chặt bỏ các ngọn dập không cho khỉ bám víu được nữa. Khi chặt những cọng buồng trái, họ thấy có những giọt nước trong veo chảy ra, có mùi thơm kỳ lạ. Nhấm thử, nước có vị ngọt dễ chịu, bà con lấy nước đó để uống. Nhưng khi chặt những buồng trái không bị dập, thì nước không chảy ra. Bà con nghĩ rằng do bầm dập thì mới có nước. Và từ đó họ suy nghĩ và làm dập cọng buồng theo cách của khỉ đã làm. Một thời gian lâu sau đó, họ đã lấy được thứ nước tinh khiết từ những cọng buồng t’vạc”.
Như vậy từ khi bị đập cho bầm dập, thân cây tự vận động, chuyển nước ra nuôi buồng trái. Những mạch nước này phải trải qua sự “phát tinh” điều tiết, để khi bị đứt ra, mạch nước vẫn chảy. Vì thế, khó khăn nhất là quá trình làm dập các buồng trái, không có tay nghề, không khéo léo kiên trì chờ đợi và nhất là không có kiến thức dân gian về thao tác đập dập thì không thể lấy được nước của cây t’ vạc. Tuy thế, nước ngọt có màu trắng nàg, vị hơi chua ấy chưa phải là rượu, bởi chưa có men. Thông qua lao động sản xuất trong các khu rừng, bà con C’tu lại phát hiện ra một loại cây có vỏ làm nên men và sủi bọt khi cho vào nước t’vạc, đó là vỏ cây chuồng. Cây chuồng phân bố trong một đơn vị diện tích nương rẫy, rừng không nhiều nên bà con dân tộc ở đây phải lùng sục tìm trong núi cao, lột vỏ mang về phơi khô, cất giữ để dùng vào việc pha chế thành rượu t’vạc. Có điều, để làm được thứ rượu “dân tộc” lấy từ nước cây t’vạc, không phải hễ cứ là người dân C’tu là có thể làm được ngay. Để làm được rượu t’vạc đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ và phải có kinh nghiệm dân gian lâu năm mới chắc lọc, pha chế để đúng là rượu t’vạc được.
Mùa hè, tháng năm, tháng sáu đến tận các làng xã đồng bào dân tộc C’tu miền tây đất Quảng, đồng bào thường mang rượu t’vạc ra mời khách. Đây là loại rượu ngon cùng với rượu T’đin, Ba kích  của đồng bào thường được dùng trong các lễ hội đâm trâu – đăc t’rí – , lễ hội cầu mùa, lễ hội mừng năm mới hoặc được dùng mở đầu mùa lễ hội miền cao của tỉnh, huyện với lễ cúng máng nước…
Mùa hè cây t’vạc thường cho nước nhiều và ngon hơn. Người Cơ tu gọi  cây t’vạc, còn người Kinh thì gọi là cây đoác. Xưa kia lá cây đoác được đồng bào vùng cao đất Quảng dùng làm lá lợp nhà, mặt khác nước cây t’vạc lại là loại nước làm nên rượu t’vạc rất ngon. T’vạc mọc tập trung thành từng vùng nhỏ, thường là nơi có độ ẩm cao, phát triển tốt nhất vùng gần các con suối, hoặc khe hố nước. Mới trông cây t’vạc như cây dừa đồng bằng nhưng lá thưa hơn, cây thấp, thân to, bẹ lớn, có nhiều đốt dày, rễ như rễ cau, từng chùm phát triển mạnh mơi đất ẩm.
Vào mùa lấy nước t’vạc, người ta vào rừng chọn cây phát triển tốt nhất, sinh sống cạnh bờ khe, hố nước, đang thời kỳ nuôi trái con để lấy nước. Mỗi cây t’vạc đang thời kỳ ra hoa kết trái thường có chừng bốn năm buồng là nhiều. Dọn sạch bụi lùm nơi gốc t’vạc, dùng thang bắt leo lên đến các buồng trái, chọn buồng trái ngon nhất có nhiều nước nhất để chặt. Thường, đồng bào Cơ tu chọn buồng có trái đã qua thời kỳ non nhưng chưa dến độ già, người Kinh miền xuôi gọi là “trái dầy”, buồng nào dầy lại càng nhiều nước. Chọn xong được buồng trái vừa ý, dùng một khúc gỗ vừa tay nắm, đập đều đặn, nhẹ tay vào quanh cuống buồng t’vạc, mỗi lần xử lý như vậy thời gian tuỳ thuộc vào cách đập. Vài ba hôm lại leo lên đập một lần, chừng nào thấy có khả năng (theo kinh nghiệm) tại chỗ đập có thể nhỉ nước ra được thì cắt ngang buồng trái. Dùng cộng rau môn nước, không có thì dùng vải mềm bịt ngay đầu cắt lại, làm như thế gọi là nhử nước. Sau đó, tiếp tục quan sát thấy có nước nhỉ ra liền lột chất nhử, dùng một can nhựa treo lên hứng nước, hoặc có thể dùng ống lồ ô, giang, nứa làm phểu dẫn nước xuống can đặt trên mặt đất cũng có thể hứng lấy nước được. Nước từ buồng t’vạc chảy ra chưa thành rượu, có màu trắng ngà, nhấm vào nghe vị ngọt, hơi chua, thơm mùi cây t’vạc.
Cũng có thể thử buồng bằng cách dùng rựa chặt vào buồng một lát xem lượng nước nhiều hay ít, nếu đạt lượng như mong muốn, lại dùng can nhựa hứng “nhựa” t’vạc đến sớm mai lại lên gốc cây xách về nhà.
          Rượu t’vạc đã trở thành “đặc sản” nổi tiếng của người C’tu các huyện miền tây đất Quảng. Rượu có thể chế biến vào uống vào tất cả các mùa trong năm. Vào mùa hè uống rượu T’vạc như một loại nước giải khát thật ngon miệng, khó quên do mùi vị đặc trưng riêng của rượu. Người lần đầu dùng thức uống bằng rượu cần T’vạc bằng chất men thực vật có nồng độ đậm, vị ngọt, hương thơm, lại có vị chát, se đắng nơi đầu lưỡi rất thú vị. Không nên nghĩ rằng rượu nhẹ nồng độ mà uống nhiều, có thể say. Tuy nhiên những người sành điệu về rượu cho rằng  uống rượu T’vạc thích khẩu hơn uống các loại rượu nấu khác cả bia nữa, vì nhiều lẽ: uống T’vạc nhiều không có cảm giác mệt, không hại sức khỏe, dễ tiêu thực. Nhiều bà con uống T’vạc cùng với bữa cơm rất ngon miệng. Nước cây t’vạc lấy trong ngày (không ngâm vỏ cây chuồng) có vị ngọt lợ như nước mía non.
Rượu T’vạc không thể để lâu và vận chuyển đi xa được, vì thế chế biến ra dùng tại chỗ là chính. Từ sau Tết nguyên đán đến hết mùa hè là thời điểm khai thác T’vạc nhiều nhất. Một cây t’vạc cho suốt ba tháng được 300 lít hoặc ít hơn, hằng ngày đồng bào lội vào rừng lấy nước t’vạc hai lần: sáng và chiều mát, hoặc có thể cứ mỗi sáng trong lúc lên rẫy làm lụng tiện đường thì lấy can hứng. Một ngày đêm cây nhỉ ra chừng 5 – 8 lít. Quanh năm đồng bào Cơ tu miền tây đất Quảng đi lấy nước thường xuyên, bởi t’vạc ra trái quanh năm, hết đợt lại ra nên bốn mùa, mùa nào người Cơ tu cũng có rượu t’vạc để sẵn trong nhà đãi khách. Tiết Tiểu mãn mưa dông chiều đổ xuống, đồng bào Cơ tu bắt mối lên rang nhâm nhi với ly rượu t’vạc, hoặc T’đin, Ba kích kể chuyện đời xưa cho con cháu nghe thì còn thú vị nào bằng!
Vì là nghề nên một số hộ gia đình có thu hoạch quanh năm từ loại rượu này.  Để chủ động nguồn nước t’vạc, ngoài việc vào rừng tìm cây lấy nước, họ còn ương và trồng t’vạc trong vườn nhà, ra công chăm sóc và lấy nước để làm rượu khi có lễ hội, cúng giàng, đãi khách, bạn bè và bán cho người tiêu dùng trong làng, xã. Có gia đình khai thác một ngày được 20 – 30 lít, mỗi lít bán được 3 – 4 ngàn đồng. Nhiều bà con nhờ thành thạo trong việc chế biến rượu đạt chất lượng, thu hút người tiêu dùng nên làm ăn phát đạt. Căn cứ lượng khai thác trên đây, mỗi ngày cả huyện Nam Giang có trên trăm hộ với vài chục thợ đi lấy nước t’vạc và chế biến thì lượng rượu không phải là ít. Làm rượu trở thành nghề bổ trợ cho kinh tế hộ gia đình. Sau tỉa bắp, lúa và chăn nuôi, bà con người C’tu xem đây là nghề cha truyền con nối, nuôi sống họ đã tạo nên nét đặc trưng văn hóa ẩm thực của vùng đồng bào dân tộc C’tu, cùng với rượu cần mà dân tộc nào cũng có, làm phong phú cho những thôn bản các huyện miền tây đất Quảng.
          Khi cây t’vạc trổ buồng, mọc ở rừng hay trồng trong vườn, trong rẫy độ ba năm tuổi là trổ bông, ra buồng. Muốn lấy nước trước tiên phải phát dọn quanh cây, leo lên hạ buồng xuống (mỗi cây t’vạc có ít nhất từ ba đến 5 buồng trái), chặt từ bẹ cây ra đến cuối buồng trái dài từ một đến hai mét, cọng buồng to và tròn như cọng buồng nải chuối. Khi đã chặt hạ cọng buồng xuống và tỉa tót các chùm trái, dây leo, bẹ khô, rác bẩn xong, người ta dùng cây gỗ cầm tay dần (hoặc đập) chung quanh cọng buồng. Cứ ba ngày một lần và tùy buồng lớn, nhỏ mà dần, đập thường xuyên nhiều hay ít lần. Dần, đập cho đều, tím bầm, chứ không được dập nát. Sau từ bốn đến sáu lần dần, đập (cũng tùy theo buồng còn non hay già), người ta chặt bỏ ở cuối phần trái cọng buồng và thế là nước t’vạc chảy ra từ mặt cắt này. Khi có nước chảy người ta dùng thùng can nhựa để hứng. Từ đó mỗi ngày khi lấy nước, người ta lại cắt thêm một một lát mỏng nơi mặt cắt cũ để thông mạch chảy, nếu không, mặt cắt sẽ tự lành lại, không cho nước nữa. Cắt gọt đúng kỹ thuật, các cọng buồng đều cuối xuống thấp và thường xuyên theo dõi, cắt lát thông mạch thì sẽ thu được nhiều nước. Một cây t’vạc có thể cho nhiều nhất là 20 lít nước, ít nhất cũng hứng được vài lít mỗi ngày. Thường thì mỗi cây t’vạc cho nước từ một đến ba tháng, tùy độ cây to, nhỏ và cọng buồng dài hay ngắn. Lấy nước đến khi nào không còn nước nữa mới thôi và cây sẽ chết sau khi lấy nước, hoặc còn sống thì phải một năm sau mới lại ra buồng trở lại.
Để có rượu t’vạt cần có chất gây men, đồng bào dân tộc Cơ tu theo kinh nghiệm dùng chất liệu gia cố là vỏ cây chuồng. Cây chuồng là loại cây thân gỗ cứng, ruột đen đem giã dập, mềm rồi cho vào thùng nước t’vạc theo liều lượng thích hợp nhưng không được nhiều quá, làm hỏng rượu. Rượu đậm hay nhạt tuỳ thuộc vào tập tục mỗi gia đình và mỗi làng. Nếu muốn rượu có nồng độ cao, bỏ nhiều vỏ cây chuồng, nếu muốn nhạt hơn như loại rượu khai vị thì cho ít vỏ. Tuy nhiên cho nhiều vỏ vào thùng, quá trình lên men làm cho nước t’vạc bị chua, khó uống. Đôi khi gia đình có truyền thống làm rượu thơm ngon, lại có khách hàng lui tới mua bán, có thu nhập.
          Việc cho vào nước t’vạc vỏ cây chuồng khô nhiều hay ít, chừng nào là vừa để có rượu ngon, loại rượu nặng, loại rượu nhẹ do các nhà nghề lượng định. Theo kinh nghiệm lâu năm, bà con pha chừng 1kg vỏ khô cây chuồng cho 10 lít nước t’vạc thì được thứ rượu ngon, đậm đà, vừa dây mùi thơm, vừốtc vị cay nồng, vừa ngọt. Về sau, có điều kiện, đồng bào dùng các loại đồ đựng có nút chặt, không cho bay hơi, giữ rượu được nguyên chất lâu hơn. Việc pha chế rượu, do đàn ông làm, còn phụ nữ thì làm nhiệm vụ hứng nước và gùi cõng nước về nhà.
          Hằng trăm năm qua, tại các huyện miền tây đất Quảng, đồng bào C’tu gần như độc quyền khai thác và chế biến rượu T’vạc. Một nghề tưởng như đơn giản nhưng thật vất vả, công phu, tuy thế chẳng ai bỏ nghề. Cây doác (t’vạc) nay được đồng bào miền tây đất Quảng trồng nhiều và bảo vệ, chúng đang phát triển.

Bánh ú tro


Hòa Vang

          Bánh ú tro thường gọi là bánh tro. Bánh có hình dáng giống như chiếc bánh ú làm bằng nếp nhưng nhỏ hơn, cách chế biến và lá gói cũng khác.
          Bánh tro làm bằng nếp ngâm vôi hoặc tro, bánh không có nhưn, đôi khi người làm bánh cho cơm dừa vào bánh để tăng thêm mùi vị thơm ngon hơn. Bánh tro thường xuất hiện vào mùa tháng năm – ngày Tết Đoan ngọ mồng 5 tháng 5 âm lịch – vào ngày này người dân đất Quảng làm bánh để dâng cúng gia tiên. Cùng với các loại cây trái khác, và thịt vịt, xôi, chè trong mâm cơm cúng Tết Đoan Ngọ không thể thiếu bánh tro, Bánh được xem là thành phần chủ yếu trong ngày mồng 5 tháng 5[1]
          Chất liệu làm bánh tro:
          - Bánh làm bằng nếp hạt chọn lựa những hạt nếp trên sàng, và loại bỏ những hạt gạo lộn trong nếp.
          - Vôi ăn trầu hoặc tro bếp.
          - Lá cây đót.
          Cách làm bánh tro:
          Trước hết là chuẩn bị tro hoặc vôi ăn trầu và nếp. Nếp thường là nếp để lâu ngày, bột sẽ bở hơn và ngon hơn. Dùng tro bếp dừng sàng cho thật sạch, mịn đều, hoặc dùng tro ăn trầu phải là loại vôi tốt màu trắng hoặc màu hồng đều dùng được [2].
          Dùng nước lã hòa vôi hay tro tan loãng với tỉ lệ 1 lít nước/ 20 gr vôi hoặc 50 gr tro bếp, sau khi hòa tan để lắng lại, lấy phần nước vôi, hoặc tro đã lắng trong ngâm với nếp đã được vo vuốt sạch.
          Ngâm như vậy qua một ngày hoặc qua một đêm, kiểm tra thấy hạt nếp mềm, có thể dùng hai ngón tay bóp nhẹ, hạt nếp vỡ đôi, ba là được. Không nên ngâm nếp lâu trong nước vôi hoặc tro quá một ngày vì như vậy nếp sẽ nồng mùi vôi hoặc tro, khi ăn bánh sẽ không ngon. Ngâm đúng mức, không lâu hơn và cũng không nhanh hơn bánh mới ngon. Sau ngâm là xả nếp trong nước sạch vài ba lần đảm bảo nếp sạch vôi và tro, xong để nếp ráo trước khi gói nếp thành bánh.
          Lá để gói bánh là lá đót. Lá được hái về trong các tháng mùa nắng thường từ tháng 2 âm lịch, người cung cấp lá cho các thợ làm bánh đã lên núi bứt lá đọt về phơi khô dự trữ phân phối cho các nhà làm bánh. Lá đót khi bứt về, dùng sợi lạt ghém cột khấp đôi một chục lá lại, mang ra sân phơi khô, đoạn cho vào bao, vào giỏ bội chuẩn bị cho gói bánh tro. Hoặc có nơi người ta gói bằng lá cây tre bương, còn gọi là tre lồ ô, có lóng dài, ống lớn, lá to bản, dài 30 cm. Dây để cột bánh là dây chuối phơi khô.
          Gói bánh:
          Dùng hai tay tạo cho cho lá đót có hình phểu, dùng muỗng nhỏ xúc một ít nếp cho vào phểu lá. Khéo léo dùnấchi ngón tay cái và ngón trỏ nấn nhẹ để khấp lá lại thật kín tạo thành hình khối tam giác. Đoạn dùng tay phải nắm sợi dây chuối khô quấn quanh hình khối tam giác và cột chặt. Bánh tro gói xong trông như chiếc bánh ú nên người thành thị thường gọi bánh ú tro, còn người bình dân quê kiểng gọi bánh tro. Bánh tro nhỏ hơn bánh ú, người ta thường cột thành từng chục mười hai chiếc trước khi nấu bánh.
          Nấu bánh:
          Bánh tro có thể nấu trong nồi đất, nối đồng hoặc nồi nhôm đều được, sao cho có thể nấu một lần được vài trăm chiếc. Trước tiên người nấu bánh lót dưới đáy nồi một lớp lá tre, lá chuối hoặc lá mít để khỏi bị sít đáy nồi. Cho bánh vào nồi, đổ nước lã trên mặt bánh chừng 5 cm (nếu bánh nhẹ trồi lên, dùng cái rổ tiếng úp lại đậy lên đè bánh xuống). Chụm lửa nấu. Khi nước sôi mở nắp trông chừng nếu nước cạn dưới mức bánh thì cho thêm nước vào. Nước sôi chừng 30 phút là bánh chín.
          Dùng đũa bếp gắp từng xâu bánh ra khỏi nồi cho ngay vào chậu hoặc thau nước lạnh cho bánh mau nguội, đoạn treo các chúm bánh lên nơi thoáng gió cho bánh mau khô.
          Bánh tro nấu chín, lột lá, mở ra trông như khối ngọc thạch nhỏ óng ánh trong, màu ngã sang màu mật ong. Nhấm thử một chút không nồng mùi vôi, hoặc tro là bánh ngon, đạt chất lượng nhất. Nếu nhấm thử mà mùi vôi hoặc tro nồng xông lên nơi mũi là bánh không ngon, do khi ngâm nếp với nước vôi, nước tro quá một đêm, hoặc quá một ngày, hạt nếp ngấm nước vôi nhiều hơn yêu cầu của chất lượng bánh.
          Bánh tro không có nhưn hoặc có cho thêm cơm dừa vào bánh, bánh vẫn lạt, do đó khi ăn bánh tro người ta thường chấm bánh tro với đường cát trắng hoặc đường bát ngào mịn vẫn ngon miệng. Bánh tro do nhỏ nên ăn một lần nhiều cái vẫn được mà không ngán, ớn. Bánh có độ dẻo, mềm, giòn. Bánh tro dễ tiêu nên ăn năm ba cái một lần vẫn không sao.
          Vào ngày Tết mồng 5, các loại trái cây như mít, xoài, ổi, ngày nay có rất nhiều loại trái cây, ăn nhiều có thể khó tiêu, lại ăn vài cái bánh ú tro sẽ dễ tiêu hóa, bụng nhẹ.
          Bánh tro đến với người tiêu dùng bàng hai phương thức bán buôn. Thường bánh được bày bán tại các chợ làng, đặt trên nẹt vun cao lên có nóc, các chiếc bánh xếp gọn phơi lưng ra ngoài trông bắt mắt người mua. Mặt khác theo chân các bà, các cô gánh đi quanh trong làng, xuyên qua các làng để bán. Đi một chặp đường lại cất tiếng rao trong trẻo: tr…o … kh..ô…ng…!


[1] Ngày Mồng 5 âm lịch cũng là ngày giỗ của nhà thơ, một quan lại liêm khiết  Khuất Nguyên trong câu chuyện xưa người Trung Quốc. Tục ăn Tết Mồng 5 đã trở thành tín ngưỡng của người Việt. Hiện nay đến ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, loại bánh này vẫn còn được chế biến và phân phối bán buôn tại các chợ, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng cho những hộ gia đình còn cũng mồng 5.
[2] Nếu dùng tro hoặc vôi trắng, bánh tro có sắc màu xanh trong. Nếu dùng vôi hồng, bánh có màu hổ phách đục không trong.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Con người với thiên nhiên...


Đồng Dao

      Trong suốt thời kì đấu tranh chống ách thống trị  của đế quốc phong kiến xâm lược, nhân dân ta nhiều phen lật đổ chính quyền của bọn đô hộ. Với chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 thì  mới chấm dứt được ách thống trị của phong kiến phương Bắc và mở đầu thời kì của quốc gia độc lập. Tất cả thể hiện niềm tự hào về Tổ quốc, dân tộc.
      Khối cộng đồng người Việt vốn rất chặt chẽ từ  thời kì trước (vì đời sống cộng đồng đòi hỏi mọi người phải sống nương tựa vào nhau nên tính tập thể là đặc điểm tối ưu) càng được củng cố sau cuộc đấu tranh lâu dài đuổi ngoại xâm. Vì vậy sau khi giành độc lập thì ý thức về một đất nước càng thể hiện rõ.
      Với Việt Nam, thời trung đại chính là thời kì phong kiến. Ở đây, Văn hóa trung vừa thuộc phạm trù lịch sử vừa thuộc phạm trù giá trị. Và quan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn hóa trung đại thể hiện khá rõ trong văn học- bởi văn học cũng chính là đời sống.
      Đối với người Việt Nam, tố chất cơ bản nuôi sống con người là hạt gạo bát cơm. Nghề sinh sống cơ bản xưa nay là nghề trồng lúa nước, đó cũng là cơ sở hình thành nên văn hóa Việt Nam - văn hóa làng xã. Có thể nói đây là yếu tố cơ bản để Việt Nam không bị Trung Hoa đồng hóa trong ngàn năm Bắc thuộc. Chúng ta vẫn thường cho rằng văn hóa là cách ứng xử thích hợp với thiên nhiên làm nên lối sống, nếp sống của một cộng đồng hay xã hội. Hay nói cách khác, văn hóa là những biểu hiện trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.
      Như  đã nói, nước ta bắt đầu với nền văn minh nông nghiệp nên lẽ đương nhiên phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Đặc biệt trong thời phong kiến, khoa học kĩ thuật chưa là công cụ đắc lực cho con người như ngày nay. Chính vì vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ vô cùng gắn bó, mật thiết. Một mặt con người tôn sùng, tín ngưỡng trước những hiện tượng tự nhiên; một mặt cũng lo sợ trước thiên nhiên biến hóa không cùng, ngoài vòng kiểm soát của họ.
      Là  một dân tộc sống bằng nghề nông, phụ thuộc vào thiên nhiên nặng nề nên chưa có một vũ  trụ quan có hệ thống mà chỉ có những tín ngưỡng nguyên thủy. Đầu tiên là thờ các thần tự nhiên như thần mặt trời, thần nước, thần sông, mây mưa, sấm chớp…sau đó là thờ thần lúa với rất nhiều lễ nghi, lễ hội như: rước nước, lễ xuống đồng, lễ cơm mới. Long Quân diệt ba con chằn tinh ở ba vùng cho dân yên ổn làm ăn thì đất nước có ba vùng. Cùng với sự trồng lúa nước có sự phát triển của chăn nuôi và những hoạt động sinh sống khác từ trước vẫn còn tiếp tục (chài lưới, săn bắn) nên việc thực hiện tín ngưỡng phồn thực hay thờ sinh thực khí của nam và nữ cũng xuất hiện.
      Đi gần tới việc trời đất, vạn vật được sinh ra thế nào thì truyền thuyết. thần thoại nước ta không thiếu những lời kiến giải ngây thơ. Vẫn là thần, nhưng thần Trụ Trời là người đã tách trời khỏi đất, làm nên sông hồ, núi non. Tiếp theo đó là những “ông”: ông tát bể, ông kể sao, ông trồng cây, ông xây rú. Những Ông ấy được tạo ra từ hình dáng con người và chính con người với sức lao động của mình- cả cơ bắp lẫn tư duy- đã tạo ra thế giới ấy. Trường ca anh hùng của người Mường “Mo đẻ đất đẻ nước’ rõ rệt, trọn vẹn hơn cả. Trong đó có lời kể về cả một quá trình sáng tạo vũ trụ, hình thành nên muôn loài, hình thành con người và xã hội loài người.
      Thời trung đại, con người chưa nhìn tự nhiên như một khách thể và mình là chủ thể. Đối với con người trung đại, tự nhiên là để tiêu dùng chứ không còn ý nghĩa nào khác. Bởi vì nông nghiệp là chủ yếu nên con người khai thác tự nhiên mà sống. Dần dần sau đó, con người thấy mình trong tự nhiên, bắt đầu từ thân thể. Người ta vẽ mắt vào đằng mũi thuyền để tránh đá ngầm, nước xoáy; hoa sen tượng trưng cho đức Phật; hay, “cổ tay em trắng như ngà, con mắt em sắc như là dao cao, miệng cười như thể hoa ngâu, chiếc khăn đội đầu như thể hoa sen”. Người ta nhìn thấy một phẩm chất nhất định và tốt đẹp ở sự vật và bản thân mình cũng có phẩm chất ấy nên gán luôn cho cảnh vật: phẩm chất kiên cường, bất chấp gian nan, thử thách ở cây tùng cây bách “tuế hàn nhi tri rùng bách chi hậu điêu”
      Trong quá trình tiến hóa của xã hội tự nhiên thì việc xuất hiện của con người được xem là một kết quả của quá trình phát triển vượt bậc. Con người là một động vật bậc cao với sự phát triển hoàn chỉnh của bộ não và đôi tay được xem là một thành tựu. Cùng với sự phát triển đó của con người thì rất nhiều quan niệm khác về con người ra đời.
      Nền giáo dục Nho học thì thường chú trọng vào khía cạnh đạo đức, chỉ quan tâm đến ứng xử  xã hội của con người. Đó cũng chính là yếu tố cốt lõi để phân biệt con người này với con người khác trong một xã hội. Ngược lại, phương Tây thì lại có quan niệm thực tế hơn, con người hay con vật khác nhau ở khả năng nhận thức, tư duy. Còn những triết gia hiện đại thì đề cao tư cách cá nhân của con người.
      Tự  nhiên nước ta nằm trong miền khí hậu nhiều nắng nóng, mưa ẩm quanh năm, có nhiều sông ngoài, ao hồ và có trên 3000 km bờ biển. Điều kiện tự nhiên ấy rất thuận lợi cho thực vật phát triển và phù hợp với đời sống con người trong xã hội săn bắt hái lượm. Tuy nhiên, khi dân số tăng lên, tự nhiên không đủ để duy trì cuộc sống của con người. Lúc đó, con người sẽ sang một thời kì khác- thời kì đồ đá mới. Với công cụ lao động là rìu, đá …đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc so với những thời kì trước. Con người bắt đầu tiến mạnh xuống trung du và đồng bằng, chặt phá cây, mở rộng đất đai canh tác. Con người thuần dưỡng cây lúa hoang thành cây lúa nước theo mùa vụ
      Cùng với nguồn gốc đó, ta thấy ở các đền Hùng đều thờ những vỏ trấu rất to làm bằng gỗ, có sơn son thếp vàng. Hoặc câu chuyện chàng Lang Liêu lấy gạo nếp và đỗ xanh chế ra bánh chưng bánh dầy làm lễ vật dâng vua cha, được vua cha truyền ngôi cho.
      Vì  là nền văn minh nông nghiệp, lại chưa có nhiều công cụ nên con người sản xuất dựa vào phỏng đoán của mình vào tự nhiên là chủ yếu “  trăng quầng trời hạn, trăng tán trời mưa” hay “  chuồn chuồn bay thấp thì mưa…”. Lúc này, con người cũng bắt đầu tìm cách tác động vào tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ mình như đắp đê ngăn nước, làm thủy lợi dẫn nước…nhưng cơ bản vẫn lệ thuộc vào thiên nhiên. Với cuộc sống như vậy, con người luôn là nhân tố quan trọng trong công cuộc lao động sản xuất. Họ luôn xem “ người sống đống vàng”, “ người ta là hoa đất”. Với họ, con người còn quan trọng hơn của cải, họ có thể mất của chứ không thể mất người “của đi thay người” “còn người còn của ”…
      Trong lao động sản xuất, con người không nắm bắt được những quy luật của hiện tượng tự nhiên mà chỉ có thể dự báo dựa trên những kinh nghiệm của mình là chủ yếu “trăng quầng trời hạn trăng tán trời mưa”, “ráng mỡ gà có nhà thì giữ” hay “tôm đi chạng vạng, cá đi rạng đông”…Lúc bấy giờ, thiên nhiên với con người vẫn là điều bí ẩn. Trước những hiện tượng thiên nhiên mà họ không thể chống chọi hoặc lí giải được thì họ lại thần thánh hóa nó lên và gắn cho nó một sự tích hay một hình tượng nào đó để thờ cúng như Sơn Tinh Thủy Tinh gắn với hiện tượng lũ lụt hằng năm; thủy triều lên xuống với họ là thần biển đang hít thở; sấm chớp mây mưa đều do các thần tạo ra. Như vậy, thiên nhiên là nguồn cung cấp, nuôi dưỡng sự sống cho họ nhưng đồng thời cũng là kẻ thù mà họ chưa thể chống chọi lại được.
      Gia đình cơ bản của người Việt là một chồng một vợ và các con chưa trưởng thành cùng sinh hoạt trong một không gian theo chế độ phụ quyền. Gia đình kiểu này hình thành từ thời kì trước khi cuộc sống tự sản xuất ra của cải để nuôi mình phát triển thì đàn ông trở thành lao động quan trọng trong gia đình. Trong gia đình Việt Nam gắn với nền kinh tế tiểu nông là chính ấy, tuy là chế độ phụ quyền nhưng người đàn bà vẫn quán xuyến, lo toan, tần tảo kiếm ăn, thậm chí lo cho chồng con ăn học nên họ vẫn đóng vai trò quan trọng trong gia đình. Vì thế mới có truyền thống “lệnh ông không bằng cồng bà” người vợ là “ tay hòm chìa khóa” hay “ của chồng công vợ”…
      Nghề  nông nghiệp lúa nướcdiễn tiến theo từng giai đoạn nhỏ  nhưng phải hội tụ thành làng là một tất yếu tự nhiên xã hội, bởi nông nghiệp lúa nước phải gắn liền với trị thủy. Mà vấn đề trị  thủy phải đòi hỏi sức mạnh của cộng đồng mới có thể xây dựng hệ thống mương, đập chống hạn, đắp đê ngăn lụt. Như vậy, trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên thì đã bắt đầu xuất hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và bước đầu họ đã tiến hành thực hiện nó. Kinh tế nông nghiệp Việt Nam không chỉ đơn thuần có cây lúa mà còn có rất nhiều loại cây hoa màu khác cho củ, quả, hạt…cây lâu năm ăn trái và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nền tảng kinh tế ấy dĩ nhiên phụ thuộc nặng nề vào tự nhiên. Nghề nông gắn liền với trị thủy. Vấn đề trị thủy không giới hạn trong mỗi làng mà còn yêu cầu sức mạnh liên kết giữa các làng, vùng, miền. Và cứ thế, con người tất yếu phải cư trú thành làng. Thế nhưng làng không thể mở rộng không gian cư trú vô hạn định, bởi nó chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như phạm vi đất canh tác, điều kiện địa lí tự nhiên . . .
      Có  thể nói, văn hóa nông nghiệp lúa nước là nền văn hóa nhào nặn giữa Đất và Nước. Trường tồn trong lịch sử văn hóa Việt Nam đã diễn ra như  thế.
      Mở  đầu từ châu thổ sông Hồng, sông Mã khi nước biển bắt đầu rút dần thì con người tràn xuống trung du, đồng bằng tụ cư, khai phá đất đai, phát triển nghề lúa nước. Con người lúc này phải thường xuyên đối mặt với sự tấn công của thú dữ, lũ lụt, hạn hán và các thế lực ngoại xâm. Và trong quá trình chống chọi lại những thế lực đó tính cách con người hình thành.
      Con người Việt Nam giàu lòng nhân ái “lá lành đùm lá rách” , “của ít lòng nhiều”  . . .Con người Việt không phải sống theo kiểu “đèn nhà ai nhà nấy rạng” mà phải “tối lửa tắt đèn có nhau” cốt để cùng nhau tạo sức mạnh chống lại thiên tai. Vì thế người Việt thường “bán bà con xa mua láng giềng gần” và luôn cho rằng “ một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”.
      Trong các lĩnh vực khác của đời sống cũng vậy. Người Việt muốn “an phận thủ thường” nhưng lại khuyên nhau rằng “chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo” hoặc “ở bầu thì tròn ở ống thì dài” , “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Con người nông nghiệp lúa nước Việt Nam, về cơ bản, luôn khát vọng yên ổn hòa bình. Bởi họ nghĩ có “an cư” mới “lạc nghiệp”, có yên ổn thanh bình thì con người mới có thể làm ăn. Vì vậy họ trọng tình, “dĩ hòa vi quý”, “hiếu hòa hơn hiếu thắng”. Họ sẵn sàng “chín bỏ làm mười”, “đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại”. Sự bao dung, độ lượng cũng là nét tính cách của người Việt.
      Có  thể thấy rằng, văn hóa của con người trồng cấy Việt Nam là cái bản lĩnh biết nhu- cương, biết công biết thủ, biết “trông trời trông đất trông mây. Trông mưa trông nắng trông ngày trông đêm” rồi tùy thời mà làm ăn theo chuẩn mực “nhất thì nhì thục” ấy là khả năng ứng biến của con người Việt Nam, của lối sống Việt Nam, văn hóa Việt Nam.
      Trong quan hệ với tự nhiên, con người tận dụng triệt  để môi trường tự nhiên để duy trì sự sống, để chống lại các thế lực ngoại xâm. Nếu như nhiều dân tộc coi ăn uống là chuyện tầm thường không đáng nói thì người Việt coi rất thiết thực, thậm chí công khai cho rằng “có thực mới vực được đạo”, nó quan trọng đến mức “trời đánh còn tránh bữa ăn”. Ngay cả khi tính thời gian cũng lấy ăn uống và cây trồng làm đơn vị: làm gì nhanh thì trong khoảng “giập bã trầu” lâu hơn thì “chín nồi cơm”, còn kéo dài lâu nữa thì tới “hai mùa lúa” . . .  
      Trong cơ cấu bữa ăn của người Việt cũng in đậm bản sắc lúa nước của mình. Không thể thiếu là  cơm, cà, dưa, rau rồi mới đến thịt. Cả trong phương thức ăn cũng thể hiện tính cộng đồng rất rõ-quây quần cả nhà bên nhau ăn uống vui vẻ.
      Trong việc ứng phó với môi trường tự nhiên, thể  hiện rõ nhất qua việc mặc. Việc mặc giúp con người ứng phó với cái nóng, rét, mưa, gió. Nhân dân ta đã nói một cách đơn giản: “được bụng no, còn lo ấm cật”. Vì vậy, cũng như trong chuyện ăn, quan niệm về mặc của người Việt Nam cũng là một quan niệm rất thiết thực “ăn chắc mặc bền” . . .
      Nhưng mặc không chỉ để ứng phó với môi trường tự nhiên mà còn có ý nghĩa xã hội rất quan trọng “quen sợ dạ, lạ sợ áo”. Mặc trở thành mục đích để trang điểm, làm đẹp “người đẹp vì lụa lúa tốt vì phân”, mặc giúp con người khắc phục những nhược điểm về tuổi tác “cau già khéo bổ thì non, nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa”.
      Ở xã hội Việt Nam cổ truyền bản chất của nông nghiệp là sống định cư nên con người ít di chuyển. Có đi thì cũng đi rất gần. Hoạt động chủ yếu của con người nông nghiệp Việt Nam là đi từ nhà ra ruộng, lên nương. Việt Nam là vùng sông nước, kênh mương chằng chịt và bờ biển dài. Bởi vậy, vấn đề đi lại từ ngàn xưa chủ yếu là đường thủy; và người Việt xưa giỏi bơi lặn, thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền. Sông ngòi phong phú thuận tiện cho giao thông đường thủy phát triển lại gây khó khăn cho giao thông đường bộ. Vì vậy Việt Nam hay có những cầu tre, cầu dừa, cầu dây . . . chính vì thế mà hình ảnh sông nước ăn sâu vào tâm thức của người Việt Nam “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, “ăn cỗ đi trước lội nước theo sau”, “thuyền theo lái gái theo chồng”. Người Việt hay nói “chìm đắm trong suy tư”, “thời gian trôi nhanh”, “ăn nói trôi chảy”, “thân bọt bèo”. Ngay cả khi đi bộ cũng nói theo kiểu đi trên sông “lặn lội đến thăm nhau”, “quá giang”. ..
      Những người sống bằng nghề sông nước thường lấy ngay thuyền, bè làm nhà ở. Nhiều gia đình quần tụ  lập nên xóm chài, làng chài. Ấn tượng với thiên nhiên sông nước mạnh đến nỗi nhà của người Việt thường được làm với chiếc mái cong mô phỏng hình thuyền. Chiếc mái cong ngoài hình ảnh con thuyền không có tác dụng thực tế gì cho nên về sau người bình dân thường làm thẳng cho giản dị, chỉ có những công trình kiến trúc lớn mới làm mái cong cầu kì.
      Bên cạnh việc xây nhà thì chọn hướng nhà cũng là cách tận dụng tối đa thế mạnh của môi trường tự nhiên để ứng phó với nó. Hướng nhà tiêu biểu là hướng nam- vừa tránh được cái nóng từ phía tây, cái bão từ phía đông, gió từ phía bắc và tận dụng gió mát từ phía nam “gió nam chưa nằm đã ngáy” hay “cất nhà quay cửa vô nam, quay lưng về chướng không làm cũng có ăn”.
      Ngoài ra người Việt cũng rất quan tâm đến việc chọn hàng xóm láng giềng. Đến thời kinh tế hàng hóa phát triển, người Việt còn chú ý chọn vị trí giao thông thuận tiện “nhất cận thị, nhị cận giang” những đô thị có tốc độ phát triển nhanh đều là những đô thị gần biển, sông thuận tiện giao thông.
      Con người thời đại này quan niệm thiên, địa, nhân nhất thể “thiên thời địa lợi nhân hòa”. Con người, trời dất đều có cấu trúc âm-dương, có chung một cấu trúc vật chất. Nếu trời đất vận hành theo qui luật âm- dương hài hòa, ngũ hành biến hóa thì con người cũng vận hành theo qui luật đó. Sự biến chuyển của vật chất là một quá trình cuối cùng trở về lại cái ban đầu: thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc. Cứ như vậy vật chất biến hóa theo chu kì. Quan niệm đó dẫn đến lối giải thích duy tâm: mọi tài năng của con người đều do trời phú mà có:
Ngẫm hay muôn sự tại trời 
Trời kia đã bắt làm người có thân 
Bắt phong trần phải phong trần 
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
                                  (Nguyễn Du)
      Nhìn chung, con người đặt trong mối quan hệ với thiên nhiên là một quan hệ gắn bó không thể tách rời. Thiên nhiên nuôi sống con người, giúp con người chống lại những thế lực ngoại xâm nhưng thiên nhiên cũng là thế lực mà con người phải chống đỡ. Trong giai đọan trung đại Việt Nam, đối với con người thiên nhiên là một lực lượng siêu nhiên, thần thánh và con người cũng đã có những lúc run sợ trước những thế lực đó; Nhưng dần dần họ đã tìm ra nhiều cách để chinh phục thiên nhiên để phục vụ cho đời sống của mình.

Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Trãi – Thơ và đời – NXB văn học;
2. Văn hóa Việt Nam – Đỉnh cao Đại Việt – NXB Hà  Nội;
3.Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam–Lê Trí Viễn–NXB văn nghệ Tp HCM.
4. Văn học Việt Nam – thể kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII – Đinh Gia Khánh chủ biên  – NXB Giáo dục

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Dân gian dân tộc trong văn hóa Quảng


Võ Văn Hòe


            Điều chắc chắn rằng văn hóa dân gian đất Quảng sẽ không bị mất mát quá nhiều, đôi khi bị mai một hoặc biến tướng ngay trong đời sống cộng đồng người Quảng nếu như không có cuộc xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt một thời gian dài trong lịch sử. Khi chiếm đất, thực dân hay đế quốc đều ra sức thực hiện giấc mộng biến con người nơi đây thành nô lệ thì tất nhiên văn hóa cũng theo đó bị nô lệ hóa hoặc bị gạt ra khởi đời sống cộng đồng của nó - nơi từ đó nẩy sinh nguồn văn hoá dân gian. Sau khi vào phương Nam nắng gió khai phá đất đai lập nghiệp, những lưu dân tại Quảng Nam đã mang theo nền văn hóa bản địa đi cùng để có thể vững tâm và an nhiên tồn tại, đồng thời tiếp thu, cải tạo nền nếp sinh hoạt văn hóa đã có trên vùng đất mới, xem như một thành tố mới được thiết lập. Nghĩa là những đặc trưng cơ bản của vùng miền từ quê cũ vẫn được duy trì, tạo tiền đề cho giữ gìn, phát huy, phát triển vốn văn hóa dân gian – dân tộc trên quê hương mới.
          Chắc chắn đã có một bộ phận văn hóa dân gian bị gạt ra khỏi đời sống nhân dân người Quảng, đôi khi tiêu cực hơn đã bị các lực lượng ngoại xâm tiêu diệt làm mất đi gốc gác văn hóa bản. Không, hoặc rất ít có cơ hội văn hoá dân gian được tiếp tục phát triển được trong cộng đồng. Một bộ phận hoặc thành tố văn hóa khác tích cực trụ bám, chống đỡ và bằng mọi cách tác động trở lại văn hóa ngoại nhập để giữ vững văn hóa bản, làm cho văn hóa bản có khả năng đề kháng lại sự xâm lăng văn hóa. Bộ phận này thường xuyên làm xuất hiện mâu thuẫn giữa văn hóa dân gian – dân tộc với văn hóa ngoại lai thâm nhập vào theo chân lực lượng ngoại xâm. Một bộ phận khác với nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau đã tìm mọi cách chạy thoát khỏi, tránh sự tiêu diệt hoặc bị đồng hóa bởi văn hóa ngoại lai thâm nhập vào đi kèm với quyền lực. Và trong trường hợp như vậy chắc chắn rằng khi chạy thoát chỉ kịp mang theo những gì quý giá nhất, căn bản nhất có giá trị dân tộc, vùng miền nhất đi theo. Biểu hiện của đặc trưng văn hóa này là các sinh hoạt văn hóa dân gian ngay tại nơi đấu tranh chống lại ngoại xâm để sinh tồn, mà nơi diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt để sinh tồn này thường diễn ra trong không gian nhà – làng – xóm. Đặc biệt vẫn trụ bám nơi không gian làng. Thế nhưng thật đáng tiếc, một thời gian dài các thiết chế cho văn hoá dân gian này trụ bám đã bị phá huỹ trong hai cuộc kháng chiến giữ nước, theo đó vốn văn hoá dân gian tìm cách đọng lại trong ký ức những người già.
          Chính vì vậy, qua hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, người đất Quảng không chỉ đấu tranh, phản ánh mối tương quan về mặt giai cấp thể hiện trong văn hóa dân gian mà còn đấu tranh về mặt dân tộc để bảo vệ văn hóa của mình. Bởi tại không gian văn hóa làng là nơi văn hóa dân gian lui về khu trú, giữ vững đặc trưng dân tộc, vùng miền vốn thường xuyên bị văn hóa ngoại lại thâm nhập làm phân rã, hoặc các lực lượng xâm lược tìm mọi cách để tiêu diệt. Sau một trăm năm hết thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ xâm lược, văn hóa dân gian đất Quảng có nguy cơ bị thất truyền – thì cũng xem như bị loại ra khỏi đời sống cộng đồng của người dân – nhiều hơn, nay đang tìm cách khôi phục và bắt đầu xây dựng lại. Tìm đâu ra khi khói lửa chiến tranh và cuộc sống không có tự do đã hủy hoại quá nhiều văn hóa, văn nghệ dân gian ? May thay còn các nghệ nhân nay đã là những người “thất thập cổ lai hy”, họ còn nhớ và giữ gìn trong ký ức những sinh hoạt văn hóa làng xã một thời. Trong điều kiện đó văn hóa dân gian đất Quảng  vẫn còn lưu giữ được những mảng màu như chính nó vốn có xưa nay, dẫu rằng không giống như văn học nghệ thuật đương đại hàn lâm nhưng rất quan trọng, bởi chính văn hóa dân gian đất Quảng là chất xúc tác, luôn là bệ phóng vững vàng và yên tâm cho văn hóa đương đại đất Quảng ngày nay phát triển.
          Chính đó, có thể nói rằng văn hóa dân gian đất Quảng luôn là nguồn cảm hứng như là văn hóa mẹ, văn hóa gốc cho nhiều thế hệ văn nghệ sĩ trên xứ sở “Trung dũng kiên cường” này lấy đó làm tiền đề cho các sáng tác của mình, không chỉ là văn chương thơ phú mà cho hết thảy các loại hình nghệ thuật. Những câu thơ lục bát mượt mà ngày nay há chẳng phải từ những câu ca dao dân dã ra đời trong đời sống lao động sản xuất đó sao! Nghệ thuật tuồng chẳng phải là sự kết hợp giữa âm nhạc dân gian với vũ điệu của những người chân lấm tay bùn mà có!...
          Thế nên, có thể thấy được rằng một khi rời khỏi lĩnh vực văn hóa, văn nghệ dân gian, xem như vai trò của văn hóa, văn nghệ dân gian không còn tác dụng hàm chứa các giá trị đặc trưng thì cũng đồng thời rời khỏi bản sắc văn hóa dân tộc – vùng miền, mất đi bệ phóng cần thiết cho sự thăng hoa phát triển đặc trưng dân tộc.
          Những sáng tác trên tất cả các loại hình nghệ thuật, rất dễ dàng nhìn thấy mối tương quan giữa văn hóa, văn nghệ dân gian và văn hóa hàn lâm đương đại đất Quảng chưa bao giờ có sự rời nhau; không những không rời xa mà còn chưa bao giờ thiết lập một đường ranh giới hẳn hoi “dân gian – không dân gian” ngay trên văn đàn đương đại.
          Chính đó, văn hóa văn nghệ dân gian được xem như bệ phóng, như văn hóa mẹ, nghĩa là mang đặc trưng dân tộc, vùng miền không phải do nó là dân gian mà bởi vì chính nó đã mang trong mình đặc trưng văn hóa dân tộc, văn hóa Quảng, đã từng tìm mọi cách thoát ra khỏi cuộc truy đuổi của thực dân, đế quốc để tồn tại.
          Nay, thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 16.6.2008 về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, đội ngũ văn nghệ sĩ trên quê hương “chưa mưa đà thấm” phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tác dụng to lớn xây dựng con người; vừa có tác dụng định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu văn hoá – tinh thần ngày càng cao của nhân dân.

Gia phong


Võ Văn Hòe
                            
Gia phong là phép tắc trong gia đình, là nền nếp riêng của một nhà. Trước đây, gia đình người Quảng xây dựng gia phong theo hệ tư tưởng phong kiến. Theo đó, gia phong chính là cách nghĩ, cách ứng xử của một gia đình trong gia tộc, với các tộc họ khác trong làng và cả với quan hệ xã hội của một gia đình theo hệ trục nhà – làng – nước.
Gia phong không tách rời khỏi gia giáo, trong một gia đình có gia phong thích hợp, trước hết phải có gia giáo, do đó gia phong và gia giáo có mối quan hệ nhau, bổ sung cho nhau cùng tồn tại và phát triển. Gia giáo có chức năng giáo dục, điều chỉnh hành vi của cá nhân trong gia đình, làm cho cá nhân tuân theo truyền thống tốt đẹp của gia đình như truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nước, lao động cần cù trong sản xuất, sống có nghĩa tình, yêu thương nhau, kính trên nhường dưới… Chính đó, trong dân gian luôn có lời nhắc nhở: Công cha như núi Thái Sơn, Nghiã mẹ như nước trong nguồn chảy ra…Anh em như thể chân tay, Lá lành đùm lá rách đừng nói nhau nặng lời …là cách thể hiện sự giáo dục nhằm xây dựng gia phong tốt đẹp.
Gia phong không tách rời khỏi sinh hoạt chung của gia tộc, họ hàng và cộng đồng cùng cư trú trong làng được. Ngày xưa quan niệm Khắc kỷ phục lễ, tức phải thực hành đúng các nghi lễ dành cho một con người theo phong tục tập quán (là những quy định, thói quen của một làng, xã thời phong kiến), cụ thể là từ lời ăn tiếng nói đến đi đứng, ứng xử đã trở thành nếp nhà như là truyền thống riêng của một gia đình. Chính đó mà trong giáo dục người phụ nữ thời xưa phải có đủ công, dung, ngôn, hạnh …thì mới là phụ nữ có gia phong, biết giữ được phép nhà. Những điều như vậy đã được gia đình chọn lựa, phổ biến, truyền dạy trở thành truyền thống qua nhiều đời cha chú, nay con cháu cứ thế noi theo. Hoặc trong đi đứng gia phong thường nhắc nhở Đi đâu mà vội mà vàng, Mà vấp phải đá mà quàng phải dây. Trong ăn uống lại có Ăn coi nồi ngồi coi hướng. Trong quan hệ thì có Chọn bạn mà chơi, trong học hành thi cử lại khuyên răn Gần mực thì đen gần đèn thì sáng…
Xem đó, có thể nhìn nhận gia phong thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần, thể hiện đạo đức gia đình (đạo nhà). Người dân Quảng Nam luôn xem trọng gia phong, cho nên gia phong được xem là tinh thần căn bản của gia đình, các thành viên trong gia đình luôn sống theo đạo nhà, giữ gìn nền nếp gia phong từ trong ra ngoài cho thật tốt để giữ được gia thế cho gia đình. Chính đó khi răn dạy con cháu, người lớn tuổi thường nhắc nhở con nhà gia giáo hoặc con nhà gia thế, luôn ghi nhớ mới giữ đuợc gia phong.
Để giữ được gia phong, ông bà, cha mẹ, anh chị luôn là người làm gương cho con cháu, em út noi theo nhằm giữ gìn danh thơm cho gia đình, gia tộc tức phải giữ cho được gia thanh. Có được gia phong thì thế nào gia đình ấy cũng luôn có uy tín trong gia tộc và họ hàng cùng làng xóm. Đó là gia thế của gia đình để vươn lên tồn tại, xây dựng một gia đình hạnh phúc, giữ được đạo nhà.
Để thể hiện gia đình nề nếp gia phong, người xứ Quảng lấy việc học tập thành tài, giúp nước, giúp đời làm trọng và luôn phấn đấu vươn lên. Vùng Gò Nổi có tất cả 24 làng trong đó nhiều làng nổi tiếng nhưng nổi tiếng hơn có lẽ làng Bảo An, quê hương của chí sĩ Phan Thành Tài, của các nhà yêu nước Phan Thanh, Phan Bôi… của các nhà văn, nhà báo Lương Khắc Ninh, Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác, Xuân Tâm, Nguyễn Đình…Làng nổi tiếng kinh tế, thương mại qua một số câu ca dao còn lưu truyền lại đến bây giờ:Bảo An trên bến dưới thuyền/ Góp phần phong phú một miền đồng quê. Hay là: Nông Sơn than đá thiếu chi/ Bảo An đường tốt, Trà My quế nhiều. Hoặc như: Tiếng đồn con gái Bảo An/ Khéo mua sợ nhỏ về đan mành mành.
          Trong làng có nhiều người đỗ đạt, theo thống kê chưa đầy đủ có tổng cộng 2 phó bảng, 23 cử nhân, và tương đương, 27 tú tài trong đó nhiều người nổi tiếng như phó bảng Nguyễn Duy Tự, cử nhân Phan Khắc Nhu, Nguyễn Bá Trác, Lương ngọc Trác, phó bảng Phan Trân…Phát huy nền nếp gia phong, các gia đình dòng họ tại Bảo An thời Pháp thuộc có nhiều người theo Tây học và đỗ đạt cao như Lương Khắc Ninh, Phan Thành Tài, Phan Bá Lân, Phan Thanh, Ngô Điền, Lương Thế Siêu…Trong vòng 30 năm, từ khi chuyển sang Tây học, cả làng đã có 50 người đỗ từ thành chung trở lên. Từ năm 1928, trong làng đã mở trường Tiểu học đào tạo nhân tài. Trường do thầy Phan Đắc Lộc làm hiệu trưởng, có nhiều thầy giáo giỏi giảng dạy như thầy Khương Hữu Dụng, thầy Lê Trí Viễn. Sau 1954, số học trò Bảo An tập kết ra Bắc nhiều người tiếp tục đi học, trong đó có nhiều người nổi tiếng như giáo sư toán học Hoàng Tuỵ, nhà lý luận phê bình văn học Lê Đình Kỵ, nhà ngôn ngữ học Hoàng Phê, nhà phê bình điện ảnh Lê Châu…Làng Bảo An còn là nơi sản sinh ra các nhà văn, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng như Phan Khôi, người khởi xướng phong trào thơ mới vời bài Tình già một thời làm xôn xao văn đàn, ông cũng là người sáng lập Phụ nữ tân văn. Có Lương Khắc Ninh, chủ bút báo Nông cổ mím đàm. Các nhà thơ Xuân Tâm, nhà báo Phan Thao…Có được thành tựu như vậy không chỉ làm vẻ vang cho gia phong, giòng họ mà còn thể hiện được sự đóng góp công sức vào xây dựng quê hương đất nước, tạo nên thanh thế cho làng và cả vùng Gò Nổi từng nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước qua câu đúc kết dân gian: Nhứt Củ chi nhì Gò Nổi.
          Phải chăng với đặc điểm về kinh tế, văn hoá, lịch sử truyền thống hiếu học, truyền thống đấu tranh cách mạng và sự giữ gìn nền nếp gia phong trong mỗi gia đình, tộc họ, Bảo An được xem là một trong những làng quê nổi tiếng của đất Quảng.
          Trong dân gian việc coi trọng gia phong gắn liền với tục thờ cúng tổ tiên, chính đó tạo nên sự bền vững cho gia đình người Quảng nói riêng. Gia phong phát triển mạnh trên cơ sở tiếp thu tư tưởng Nho giáo và Đạo giáo đã được chọn lọc trong quá trình vận dụng thực hành phong tục, tập quán. Ngày nay gia phong được tiếp thu những chuẩn mực mới, tiếp nối đạo đức người xưa, phù hợp với sự phát triển xã hội, nhưng vẫn là tinh thần giữ gìn bản sắc, trọng bản, giữ nguồn cội, đề cao lòng hiếu thảo, thờ kính ông bà, cha mẹ, nhường anh nhịn em. Phát huy và xây dựng gia phong, người Quảng coi trọng việc xây dựng gia đình, sống thuỷ chung hiếu thảo, nghĩa tình…Bài vè Từ mẫu huấn tử lưu hành trong dân gian cho thấy người xứ Quảng coi trọng việc giáo dục các thành viên trong gia đình:         …
Nhớ mấy lời mẹ dặn !
Công mẹ đẻ đau mang nặng
La chi cho mỏi tiếng, hao hơi
Muốn cho lịch giác sự đời
Ngọc bất trác do hà thành khí [1]
Chữ:"Trượng phu chi chí thời thân nãi lập                                                                              thân." [2]
Hỡi! Làm người lo tảo lo tần [3]
Thời thiên hạ thường biết mày, biết mặt
Làm sao đặng rạng danh rỡ tiếng.
Lịch sự mẹ thời lịch sự con
Nghĩa quân sư con há dễ chiều lòn
Thầy há dễ tiếc công, tiếc sức
Người cũng người đạo đức
Nên tìm đến chốn ta
Gẫm người đời chữ nghĩa như ba [4]
Còn có thuở danh biêu bảng hỗ.
Lòng mẹ đà sở mộ
Nên trọng đạo sùng sư
Mẹ nói với con ngôn tận lý từ
Cho nhớ chữ:" Thời lai phong tống." [5]
                   …


[1] Ngọc bất trác do hà thành khí = Trác: mài, trao dồi. Ngọc (mà) không mài dũa (thì) sẽ không  sáng được. Người không trao dồi, rèn luyện sẽ không giỏi được.
[2] Trượng phu chi chí thời thân nãi lập thân = Nãi: bắt đầu. Kẻ trương phu có  chí bắt đầu lập thân khi  có thời cơ.
[3] Tảo, tần = Hai loại rau dùng để làm đồ tế. Trong Kinh thi có câu: Vu dĩ thái tần, nam giản vu chi tân, vu dĩ thái tảo, vu bỉ hàng lạo= hái rau tần bên bờ khe phía nam, hái rau tảo bên lạch nước. Theo ý trên, ở đây chỉ công việc lo toan, chăm chỉ của người vợ, dâu, mẹ hiền hái rau tần, rau tảo về tế tổ tiên, hiểu rộng ra là đức tính đảm đang của người phụ nữ.
[4] Ba = tức hoa. Do phạm húy vợ đầu tiên vua Minh Mạng  là Hồ Thị Hoa  (mẹ vua Thiệu Trị), sau khi sinh vua Thiệu Trị được 13 ngày, bà mất. Vua cha là Gia Long thương tiếc bèn xuống dụ cấm không được dùng "hoa" trong mọi trường hợp, do đó Thanh Hoa đọc là Thanh Hóa, Đông Hoa gọi là Đông Ba, hoa gọi là huê, bông...
[5] Thời lai phong tống = buổi lại gió đưa. Ý nói thời cơ đến rồi.