Thứ Năm, 28 tháng 11, 2013

Giai thoại hò khoan

Đinh Thị Hựu

I. VẤN ĐỀ GIAI THOẠI HÁT HÒ KHOAN
            Giai thoại là một thuật ngữ gốc Hán. Theo nghĩa từ nguyên, giai: đẹp, thoại: câu chuyện. Hiểu một cách đơn giản giai thoại là câu chuyện hay, lý thú. Đây là thuật ngữ dùng cho cả hai phạm trù văn học dân gian và văn học viết. Giai thoại hò khoan là những câu chuyện kể hay, lý thú về các nghệ nhân dân gian hát hò khoan. Nội dung giai thoại thường kể về những cuộc hát hò khoan kèm theo sự ra đời của những câu hát hay, lý thú, độc đáo.
            Trong sinh hoạt hát hò khoan xứ Quảng, lực lượng nghệ nhân chủ yếu là những người chân lấm tay bùn, hai sương một nắng. Tuy nhiên, khi hò khoan phát triển cao với sinh hoạt hát đối đáp (hát đố, hát đối, hát nhân ngãi...) thì đã bắt đầu hình thành một lực lượng nghệ nhân bán chuyên nghiệp. Vì thế có thể chia lực lượng nghệ nhân trong hát hò khoan ra làm hai loại:
            1. Nghệ nhân dân gian "thuần túy"
            2. Nghệ nhân bán chuyên nghiệp có ít nhiều bước qua cửa Khổng sân Trình hoặc học "tại gia".
1) Nghệ nhân "thuần túy":
            Là những người nông dân chân lấm tay bùn, hai sương một nắng. Trong những buổi lao động trên đồng hoặc chèo đò trên sông nước, họ cùng nhau hát hò cho không khí lao động thêm vui tươi, phấn chấn; văn nghệ là để hỗ trợ lao động. Nhưng càng phát triển hò khoan bắt đầu hình thành loại nghệ nhân bán chuyên nghiệp.
2) Nghệ nhân bán chuyên nghiệp:
            Đây thường là những người có tài ca hát, có tài ứng đối, ứng tác. Họ thường là những người có học, học ở trường học hoặc học "tại gia". Họ ít nhiều am hiểu chữ nghĩa thánh hiền. Do đó, họ thường sáng tác những câu hát nặng màu chữ nghĩa:
                        Bà già lể ốc trong nhà
                        Con quốc kêu khát nước, con mổ kê.
 Lực lượng này thường làm "thầy gà", "gà" cho cả bên nam lẫn bên nữ:
                        - Con trống tía nó rỉa bông
                        Con ngựa ăn gò mả con rồng về hóa long
            Đông con rắn chạy giáp vòng
            Ngó ra ngoài biển con nằm ngất ngư
            Trai như anh đối đặng chừ chừ
            Trầu têm cánh phượng bỏ khay xa cừ em dâng lên

            - Con diều đậu nhánh bông trang
            Con voi ăn núi tượng, con rùa bò đá quy
            Ngó lên cây lồ ô, con quạ đậu li bì
            Ngó về dưới biển, con tôm đi bạc
            Em về thưa mẹ cùng cha
            Qua đà đối đặng, em theo qua cho rồi.
Thật ra, nghệ nhân này trong hát hò khoan ở xứ Quảng không nhiều lắm, một số nghệ nhân nổi tiếng như Trần Hàn, Giáo Lươn, ông Bẩy Dậu, ông Bảy Tỏi, Bảy Nài, bà Bảy Út, cô Hai Nêm, bà Ba Đĩ....

II. NGHỆ NHÂN VÀ GIAI THOẠI
Sau đây là một số nghệ nhân với những nghệ nhân cũng đã tạo nên nhiều giai thoại kỳ thú trong sinh hoạt hát hò khoan xứ Quảng trước đây:
1. Giai thoại về Trần Hàn:
(Sinh khoảng 1877 chết năm 1928)
Người làng Quế Phong, huyện Quế Sơn còn có tên là Trần Luyện, tên chữ là Tinh Kim, ông là con thứ chín của ông Trần Chánh Nghị (tục gọi là ông Quyền Liệu)
Ông Trần Hàn là người có học đã nhiều lần thi hương, nhưng đến tam trường thì rớt. Ông bỏ con đường công danh thi cử về quê làm ruộng, có lúc dạy học, làm thơ đặc biệt là say mê hát hò khoan nên có câu hát :
Tiếng ai như tiếng Trần Hàn
Con ông Trần Liệu ở làng Xuân Quê
Nhà thì ruộng đất bề bề
Vợ năm bảy mụ sao lại theo nghề hò khoan?
            Theo nghề Hò khoan Trần Hàn hát hò khoan chuyên nghiệp và nổi danh nhất xứ Quảng.
Xuất thân nho học lại sử dụng thành thạo ngôn ngữ dân gian, ông thường ứng khẩu rất nhanh, thường thắng lớn trong những cuộc hát đối đáp. Giai thoại kể rằng ở một đám hò khoan nọ mấy ông đồ định dồn ông vào thế bí, ông gà cho một cô gái hát:
            Lộ đồ quan ải, quá ải quan
            Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng
            Thứ ba Sơn Hậu lão Phàn con ai?
Câu hò vừa Nôm vừa Hán rút từ sự tích vở tuồng Sơn Hậu. Xưa nay từ kịch bản đến diễn xuất không có nơi nào ghi rõ lai lịch nhân vật Phàn Đình Công chỉ biết nhân vật này là một trung thần nhà Hán. Thế mà Trần Hàn tự tin hát đáp rất nhanh:
            Nan thế nan lưu, nan thế sự
            Bần cư gia thất hữu thất gia
            Thiếp hỏi chàng: Chàng phải nói ra
            Phàn Đình Công thuở trước con bà già ông sinh…
 Tất nhiên, đó là một câu trả lời có tính đối phó, nhưng ở đây từ thế bí ông chuyển thành thế chủ động. Do đó ông được thể phản công luôn:
            Thế gian ai chẳng có thân huynh
            Chớ chàng hỏi thiếp đôi đứa mình ai sinh?
Trần Hàn không chỉ dành thế chủ động tấn công mà còn chuyển từ chỗ tình cảm sơ giao thành tình cảm thân mật các từ đôi đứa mình sao thật gần gũi, thật gắn bó vì từ này chỉ dành cho những người đang yêu nhau.
Tuy nhiên trong cuộc đời hát hò khoan của ông, ông đã gặp rất nhiều đối thủ cao tay, thường là những cô gái. Họ ra những câu hát châm chọc, khiêu khích nhiều lần Trần Hàn không thể đáp lại được. Giai thoại kể rằng:
Ông Trần Hàn có bốn bà vợ tên: Nồi, Tích, Hửng, Xáng. Vì thế có một cô gái đã ra câu hát hò khoan châm chọc:
Nồi, niêu, tích để hững hờ
Sụp giàn xáng bể, đợi chờ hàn the.
Lời câu hát cố vận dụng tên gọi bốn cô vợ và tên Trần Hàn ra khiêu khích nhưng Trần Hàn chịu thua không thể đáp lại được.
Giai thoại dân gian xứ Quảng cũng kể rằng trong một lần đi qua nương dâu, (một lần qua nương dâu ) gặp mấy cô hái dâu đang cười nói xôn xao, Trần Hàn chủ động cầm chiếc rổ giơ lên và nói:
- Các cô ơi! Cho tôi xin một lá dâu
* Có cô ngạc nhiên hỏi lại:
- Sao lại xin một lá dâu? Thầy chảy máu cam à? (Kinh nghiệm dân gian ở Quảng Nam, khi bị chảy máu cam người ta thường lấy lá dâu nhét lỗ máu lại).
- Trần Hàn bèn trả lời tinh nghịch:
- Tui chỉ có một con tằm nên chỉ xin một lá dâu. Cả bọn nhà nho đi theo Trần Hàn cũng cười ồ, "xỏ xiên" đồng thanh hô lên.
- Tôi nữa tôi cũng chỉ có một con tằm, Trần Hàn được đà tán thêm:
- Các cô vui lòng cho mỗi anh một lá!
Cả đám con gái thẹn chín cả người, nhưng bất ngờ có một cô cất giọng hát:
Trần đi gặp lúc cơ hàn
Rổ đan mặt cuối về làng mót khoai
Câu hát cùng một lúc nêu lên những điểm yếu trong nhân dạng của Trần Hàn (chột mắt) mặt mót - một mắt, lúc nhỏ Trần hàn bị bệnh đậu mùa nên mặt bị rỗ.
Hay một câu hát khác cũng có ý nghĩa châm chọc yếu điểm nhân dạng của Trần Hàn chỉ có một con mắt:
Chim quyên đậu miếu thổ thần
Ở xa thấy một cặp, nhưng lại gần chỉ một con1
            Câu đố này Hàn không đối lại được.
Lại một lần khác các cô hỗn láo dám kêu cả cha Trần Hàn cả ông Quyền Liệu ra để châm chọc:
Quần em rách dọc rách ngang
Thầy liệu, Thầy hàn em trả công cho
            Câu này quá xách mé, Trần Hàn đau vì các cô đem cả tên cha của ông ra mà châm chọc. Rất tiếc ông cũng không đối lại được. Tương truyền rằng sau câu hát này ông về giải nghệ không đi hát hò khoan nữa.
Trần Hàn là nghệ nhân nổi tiếng nhất trong hát hò khoan xứ Quảng. ông không chỉ là người hát hay mà còn là người sáng tác ra rất nhiều câu hát hay. Chung quanh cuộc đời ông có nhiều giai thoại đặc biệt là những giai thoại để hát hò khoan trong những lần ông đối đầu với những cô gái xứ Quảng. Như thế một lần nữa càng khẳng định tài trí tuyệt vời của các cô gái xứ Quảng trong hát hò khoan.
2. Giai thoại về ông giáo Lươn:
            Đến nay các nhà sưu tầm nghiên cứu về hát hò khoan xứ Quảng cũng chưa ai có tài liệu về năm sinh và năm mất của ông. Chúng ta cũng không rõ tên ông là Giáo Lươn hay Giáo Lương. Chỉ biết rằng ông là người có học, sinh thời ông làm nghề dạy học và cũng là người rất mê hát hò khoan.
Ông cũng thường tham gia các cuộc hát và cũng đã sáng tác nhiều câu hát hay.
Một lần đi hát gặp cô gái tên Khai, ông hát khiêu khích:
            Con kia mi đừng nói lừng khừng
            Xung điên bắt rắn bỏ quần mi phải khai
Cô gái đáp:
            Bụng đàn bà, dạ con nít
            Thấy rắn phải la làng
            Rắn không phải rắn nó vàng vàng như chú lươn
Ông giáo Lươn cũng không vừa hát tiếp:
            Giống lươn là giống hay trườn
            Lấy rổ phân úp lại bốn cẳng giường tau chần lên.
Tuy nhiên, trong cuộc đời đi hát ông cũng để lại một số giai thoại mà những giai thoại này đều gắn liền với những câu hát mà ông không đối lại được.
Một lần, một cô gái đem tên ông (Lươn) ra để nhạo báng:
            Sáng ra đau bụng đi cầu
            Thò tay rửa đít, đụng đầu con lươn
Một lần khác có người lại hát:
            Nực cười cần ngắn chỉ dài
Lưỡi câu cũng được một vài túm quăn
Móc mồi thả xuống mi ăn
Tau rị, mi rị thẳng căng như dây đờn
Thử tài thử sức ai hơn
Mi thò đầu lên là tau ngoéo, mi trơn trên chừng nào
Đây là những câu hát có vế ra rất hiểm, rất đau. Rất tiếc ông Giáo Lươn không đối lại được.
3. Giai thoại về hai nhà nho và bà Ba Đĩ:
            Giai thoại không nói kỹ về lai lịch của hai nhà nho này mà chỉ kể rằng trong hai nhà nho trên có một người quê Điện Nam, Điện Bàn. Chuyện kể rằng ở địa phương Hòa Vang bấy giờ có bà Ba Đĩ là gái lỡ thời, hát hò khoan rất giỏi nên hai ông tìm đến để hát. Bà Ba Đĩ ra câu hát trước mượn danh nho sĩ của hai ông để châm chọc:
                        Giở háng ra đủ mặt anh hào
            Nhìn qua bến "lỗ" trùng trùng danh nho
Ở đây bà chơi chữ, bà mượn cái háng để nói chữ Hán, mượn nước Lỗ (quê hương của tổ sư đạo nho) để chỉ cái lỗ kín của phụ nữ. Thật là một câu hát quá hiểm hóc nên hai ông không thể đáp được. Tương truyền rằng sau lần hát này hai người đành chịu thua về cạo đầu, xuống sông tắm cho sạch, tìm quần áo khác để mặc. Người ta kể rằng hình như trong hai ông đã có một ông bỏ đi tu ở Đà Lạt.
4. Giai thoại về bà Ba Đĩ và anh nho sĩ mù
            Chuyện kể rằng một hôm có anh nho sĩ mù hát xạo với cô Kiều:
                        Dương cung bắn xỉu con cò
                        Để cho nó lớn nó mò tép tôm
            Ở đây anh nho sĩ đã dùng nghệ thuật chơi chữ nói lái "Xỉu con cò"  là "xỏ con Kiều".
            Cô Kiều lợi dụng ngay nhược điểm khiếm thị của anh để tấn công:
                        Lưỡng mục vô châu  thấy đâu anh bắn
                        Ra giữa chiến trường anh trợn trắng mắt lên
            Dẫu bị đòn đau khi cô Kiều đánh vào sự tật nguyền của anh nhưng anh vẫn không chịu thua, chiến đấu tiếp
                        ­- Dẫu có đui anh cũng thấy lờ mờ
                        Anh bắn không được anh rờ anh đâm
            Thật là một cuộc chiến ngang sức ngang tài!
5. Giai thoại về Nam Đông Yên xã và nữ Mã Châu Thành
Một hôm bên nữ Mã Châu Thành hát trước
                        Tiếng đồn chàng ở Đông Yên xã
                        Thiếp ở Mã Châu Thành
                        Hỏi thăm chút: Trường thành của thiếp bao nhiêu?
Anh đáp lại:     Cây ngọt sanh ra trái đắng
            Năm ngón tay có ngón ngắn ngón dài
Tôi đến đây không ham sắc, cũng chẳng khoe tài
Bề ngang tôi thua chị, chứ bề dài chị thua tui
6. Giai thoại Ông Bảy Tỏi và cô Út:
Ông Bảy Tỏi là người rất giỏi hát hò khoan. Giai thoại kể rằng trong một lần đi hát ông bị bà Út hát trước đánh phủ đầu bằng cách đem tên của ông ra châm chọc:
- Nửa đêm thức giấc hoảng hồn
Con chi nó cựa quậy trong l... của tui
Tưởng là một dậu thì thôi
Hay đâu tới bảy dậu1 trời ơi là trời.
Một lần nọ, Cô Út hát trước:
            Lâu ngày mới gặp bạn Ta
            Làm ăn có khấm khá hay sát da như mình
Ông Bảy Tỏi còn có tên tục là Ta. Việc gọi xách mé tên tục của đối phương là một cách châm chọc. Chữ "sát da" có hai nghĩa: thứ nhất, Ý nói công việc làm ăn khó khăn nên người gầy ốm sát da, nhưng ý nghĩa thứ hai, quan trọng hơn ấy là muốn châm chọc, chỉ bộ phận kín của người nữ. Ông Bảy Tỏi hiểu ý rất nhanh nên trả lời rất lý thú:
            - Làm ăn không khá không không
            Đu đưa đủng đởn như ông ở nhà
Ông dùng từ hình tượng "đu đưa đủng đởn" để chỉ bộ phận sinh dục nam, thật là một câu trả lời đắc ý. Chính từ câu hát hò khoan này mà có câu ca dao đối đáp bông đùa ở xứ Quảng.
            - Gặp anh Ba đây khiến hỏi anh Ba
            Lâu nay làm ăn có khấm khá hay cũng sát da như bọn mình

            - Thời buổi bây giờ công việc sớt sưa
            Dư không dư, thiếu không thiếu cũng đu đưa như mọi ngày
Một lần khác, cô Út hát trước:
             - Hai bên rừng núi rậm rì
            Ở giữa có khe nước chảy, anh đi đường nào?
Ông Bảy Tỏi đáp trả:
- Hai tay anh nương hai cái cù lao
            Nước chảy mặc nước, anh cứ chống sào anh qua
 Một lần khác lại thách thức:
                        - Em đưa cho anh một nắm bắp khô
Đố anh tỉa cho mọc, em xin vô kết nguyền
            Ông Bảy Tỏi trả lời:
- Anh biết em có miếng đất bỏ không
                        Mưa ba năm không ướt, nắng sáu tháng ròng cũng không khô
                        Vậy thì có khó chi mô
                        Em đưa đây cho anh mượn anh tỉa vô mọc liền
Chính câu hát hò khoan này là cơ sở để ra đời câu ca dao bông đùa quen thuộc xứ Quảng.
                        - Em liều một nhắm bắp khô
Đố anh tỉa mọc, em vô kết nguyền
                        - Trời mưa ba năm không ướt
                        Trời hạn sáu tháng không khô
Em không cho anh tỉa chớ anh tỉa vô mọc liền.
7. Giai thoại về cô hót phân trâu
            Ở nông thôn xứ Quảng ngày trước, phân trâu bò rất quý vì dùng để bón lúa. Do đó nhiều cô gái hàng ngày phải đi hốt phân về ủ với lá cây mà bón ruộng. Một hôm gặp một cô đi hốt phân trâu, một anh hát:
                        Em ơi hốt cứt làm chi
                        Rửa tay cho sạch mà đi buôn trầu
Cô gái trả lời
                        Buôn trầu lỗ lắm anh ơi
                        Để em hốt cứt lần hồi nuôi anh.
8. Giai thoại về các cô gái làm nghề đan đồ tre1 và có hai anh thanh niên một Quảng, một Huế:
Nữ:                  Liệu bề đác được thì đan
                        Đừng gầy ra bỏ đó, thế gian họ chê cười
Nam:               Anh đây đan cũng giỏi mà đác cũng tài
                        Lận thì bắt trên anh đè xuống, nứt thì bắt ngoài anh đè vô2
                        Anh đây nào phải trai hư
            Đan cũng được mà đác cũng đặng, anh lận chừ chừ cho em coi
Lận rồi chận lọt hẳn hoi
Bắt trên anh đè xuống, bắt ngoài anh ấn vô
Nói ra sợ mất lòng cô
Nhìn quanh cái thúng chỗ mô tui cũng dùi.
9. Giai thoại về Dùi Chiêng3
            Ông Tư ở miền biển rất có năng khiếu hát hò khoan, thường đi buôn miền ngược. Một hôm ông Tư ngủ nhờ nhà anh Bá Giảng, ông Bá Giảng yêu cầu ông Tư hát, ông liền cất tiếng:
                        Tui đây khách lạ xa đàng
                        Tới đây ông Bá biểu tui hát với mấy nàng Dùi Chiêng
Rạng ngày mai tui đáo cảnh Bình Yên3
                        Các cô ở lại có chiêng không dùi
                        Về nhà lòng lại bùi ngùi
Tui đây thì lại có dùi không chiêng
Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên
Có ta, có bạn mới có chiêng, có dùi.
            Từ địa danh Dùi Chiêng ông Tư lại chuyển sang ngụ ý chỉ dùi chiêng là hai dụng cụ rất gần trong sự liên tưởng tới bộ phận sinh hoạt nam nữ. Quả là một sự liên tưởng rất tài tình và một sáng tác ứng khẩu rất nhanh, rất hay. (Có tư liệu cho rằng bài hát này là của Trần Hàn)        
10. Giai thoại về anh làm ảng1
            Một hôm các chị nữ gặp các anh nam thợ làm ảng hát rằng
                        Gặp trượng phu thiếp xin hỏi trượng phu
                        Chớ ảng kia hai cặp có mấy cái lù bạn biết không?
            Biết rằng nếu các anh nam trả lời "bốn lù" thì sẽ mắc mưu của các cô gái và các anh hiểu vấn đề rất nhanh, đã trả lời rất thông minh:
                        Bao nhiêu lù là bấy nhiêu cái ảng
                        Cô kia sang sảng khéo hỏi khù khờ
                        Đầu óc sao lại lơ mơ
                        Ảng kia hai cặp, mấy cái lù giờ biết chưa?
11. Giai thoại về cô Hai Nên và anh lính thổi kèn Tây
            Một hôm gặp anh lính thổi kẻ tây, cô hai nên hát trước
                        Tiếng đồn anh học nhạc đã lâu
                        Ông Tây đòi, ông sứ bắt đứng dưới cái "đồn lầu" thổi chơi
                        Khen anh giọng tốt dư hơi
            Lưỡi lê liếm lỗ ngồi nơi xó hè
Anh lính kèn cũng không phải tay vừa trả lời cũng không kém phần thâm hiểm:
            Chắp sứ giã cát tư kỳ sứ dã
            Ông thân em già cả nên được đứng dưới đồn lầu
            Phần anh đây là lễ nhạc, chỉ được hầu ở ngoài sân
12. Giai thoại ông Nghè Tư và ông giáo Ba
            Ông nghè Tư và ông Giáo Ba là người làng Phụng Minh2. Hai ông rất thân với nhau, thường lui tới nhà nhau cuộc cờ, chén rượu. Ông Nghè Tư lấy vợ người ở Phước Chỉ (huyện Duy Xuyên). Ông Giáo Ba lấy vợ người La Qua (huyện Điện Bàn).
            Một hôm, khi men rượu đã ngà ngà, ông Nghè Tư nói với ông Giáo Ba:
            - Bác Giáo này, tối qua tôi có nghĩ được một vế đối lạ. Xin đọc để bác nghe và nhờ bác chỉ giáo. Nhưng trước khi đọc tôi cũng xin bác miễn thứ cho cái bất nhã của vế đối. Vế đối thế nầy:
            "Con gái La Qua, qua hôn, qua hít, qua vít, qua véo, qua chọc qua ghẹo, qua biểu em rằng đừng có la qua"
            Sau hồi suy nghĩ ông giáo Ba nói:
            - Tôi cũng xin phép bác được đối lại như thế này:
            "Con gái Phước Chỉ, chỉ xâu, chỉ xa, chỉ lười, chị nhác, chỉ bài, chỉ bạc, chỉ có chồng là may phước chỉ"
            Cả hai ông vỗ tay cười xòa1
            Có thể nói chính đây là cơ sở ban đầu để cho ra đời một bài ca dao rất độc đáo của xứ Quảng:
            Con gái La Qua
            Qua đẩy qua chọc qua vọc qua ghẹo
            Qua biểu em rằng
            Đừng có la qua.
13. Giai thoại về Thủ  Thiệm hát hò khoan
            Trong làng có lão Hương Đại ỷ mình có học, hay khoe chữ. Một hôm đến chơi với Thủ Thiêm mới thách rằng:
            - Thủ Thiêm ta biết anh hay chữ lại giỏi, hát hò khoan. Vậy đố anh hò một câu mà ta đo được một thước thì ta phục.
            Thủ Thiêm liền cất giọng hò:
            - Thương người đến đứng ngõ người
            Đất mòn chín tấc, thiên hạ cười mười phân.
            Bị thua cuộc ức lắm, nhưng Hương Đại vẫn còn đố kỵ. Tính háu thắng kia hắn không chịu bỏ cuộc nên một hôm khác gặp Thủ Thiêm đang cầm cày hắn lại bảo:
            - Này Thủ Thiêm, bữa ni nếu anh chỉ hò một câu mà làm trâu đứng lại thì anh bảo gì ta cũng chịu.
            Thủ Thiêm nhận lời với điều kiện nếu thua cuộc Hương Đại phải cày đám ruộng cho mình. Hương Đại đồng ý, Thủ Thiêm bèn cất giọng hò:
            Em không trách mẹ hờn cha
            Trách cho căn số sinh ra lỗi giờ2
14. Giai thoại về câu hát của Bà chúa Tàm Tang xứ Quảng
            Nhân dân địa phương kể rằng vào một đêm trăng đẹp năm 1615, chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên trong một chuyến tuần du Quảng Nam dinh đã cùng công tử thứ hai là Nguyễn Phước Lan lúc ấy mới 15 tuổi, dạo thuyền trên sông Thu Bồn. Khi thuyền rồng ngược dòng, từ dinh chấn Thanh Chiêm (nay là xã Điện Phương, huyện Điện Bàn) đến địa phận làng Chiêm Sơn huyện Diên Phước, nổi tiếng trồng dâu nuôi tằm thì giọng hát trong trẻo của một thiếu nữ nương dâu vọng ra:
            Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng
            Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa...
Lát sau, giọng hát đó lại tiếp:
            Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu
            Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình
            Giọng hát của cô thôn nữ trong đêm trăng sáng đã làm rung động trái tim chàng công tử đa tình Nguyễn Phước Lan. Được sự đồng ý của Chúa, công tử cho thuyền ghé men vào triền sông để tìm tiếng hát. Khi lên bờ, bên bóng dâu dưới ánh trăng chàng công tử đã đem lòng say đắm trước vẻ kiều diễm của cô thôn nữ Đoàn Thị Ngọc, ái nữ của hào trưởng Đoàn Công Nhạn. Kết quả cuộc tình là cô thôn nữ có giọng hát hay năm xưa về sau đã trở thành bà chúa Tàm Tang xứ Quảng./.



1 Ý chỉ một con mắt.
1 Dậu trong tiếng địa phương xứ Quảng: dương vật
1Nghề đan tre ở Quảng Nam ngày trước thường đan:  Thúng, mủng, dừng, sàng...
2Lận, nứt: Từ địa phương chỉ thao tác làm vành chiếc rổ, thúng, nong nia…
3Ý chỉ quê ông Tư "Bình Yên" Thăng Bình
1Ảng : Nha cai vại đựng nước uống thường làm bằng xi măng dưới có chừa một cái lù để tháo nước súc ảng.
2 Làng Phụng Minh: thuộc xã Đại Phong, huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam
1 Ghi theo Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, tập 2 - NXB Đà Nẵng 1983 Tr.125; 168
2 Giờ: ở địa phương Quảng Nam, Đà Nẵng "giờ" là tiếng gọi trâu bò dừng lại.

Sông Hàn bữa ấy!

Võ Văn Ba

Xin được bắt đầu bằng hai nhịp mở của lời ca dao thống thiết với những tiết tấu quen thuộc đã đi vào lòng người Đà Nẵng từ thưở Tây lại sứ sang. Nhưng điều ấy sẽ được làm rõ hơn, sẽ diễn luận rộng hơn trong các trang viết sau. Trước hết, hai câu mở đã phác hoạ trên nên một đối cảnh đau lòng “Đứng bên ni Hàn/ Ngó qua bên tê Hà Thân”. Chúng ta dừng lại ở nhịp ngắt mạch ấy, để lắng sâu vào tâm hồn mình với trạng thái chủ thể quặn thắt giữa “bên ni “ và “bên tê “ của hai bờ ruột thịt.
      Bên ni là đất nhượng địa, là đất bị giặc chiếm đóng. Bên tê là vùng nông thôn cơ cực, xác xơ!  Bài ca dao bước ra từ sau ngày giặc chiếm đóng quê nhà.
      Tuy nhiên trước khi Pháp quyết định liên quân cùng với Tây Ban Nha chính thức đánh chiếm Đà Nẵng, một tiền cảng quan yếu (avant port important), thì bọn chúng đã nhiều lần dọ thám, rồi hăm dọa, phô trương lực lượng, thị uy thanh thế. Những sự kiện ấy được lật ra từ sử liệu:
            Năm 1822, và năm 1825, hai lần Pháp đưa tàu chiến vào cảng Đà Nẵng để giương oai. Bọn chúng đòi triều đình Huế thả các giáo sĩ bị bắt. Đòi được tự do buôn bán.
             Năm 1845, lại hai lần nữa chúng dọa dẫm rồi bỏ đi.
             Hai năm sau đó, tháng 3 – 1847, tàu Pháp vào Đà Nẵng, thuyền trưởng và các giáo sĩ ngang nhiên xông thẳng vào công quán.
         Ngày 15 - 4 - 1847, tàu chiến Pháp bắn phá các chiến thuyền của triều đình neo đậu trong vịnh Đà Nẵng, làm tê liệt hầu như hoàn toàn lực lượng hải quân của vua Thiệu Trị. Đây là hậu quả, là yếu tố tất nhiên đối với một nước nhược tiểu trước vũ khí hiện đại lúc bấy giờ của hai đế quốc xâm lược.
       Ngày 01 - 9 - 1858, sự kiện đất nước đã chính thức đưa địa thế quan yếu, tài nguyên hấp dẫn, non nước hữu tình, vị trí trung độ của tổ quốc thân yêu này, giao cho  người dân Quảng Nam nói chung, Đà Nẵng nói riêng, một trọng trách vinh quang nhưng cũng muôn vàn gian khó, và đầy thử thách trong sự nghiệp đi đầu chống thực dân Pháp xâm lược.
     Vì sao hoàng đế nước Pháp, Napoléon đệ tam, huấn lệnh cho Thiếu tướng Ri - gôn Đờ gờ - rờ - nuôidi (Rigault De Grenouilly), về sau vị này trở thành Đô đốc hải quân, buộc ông ta “Ngay lập tức phải chiếm cho được vịnh và lãnh thổ Đà Nẵng, làm chủ vị trí này”? Câu trả lời không có gì khó khăn cả. Bởi đây là địa thế chiến lược quan trọng của một tiền cảng, cách đất liền chưa tới 3 cây số. Bởi cảng Đà Nẵng là đầu mối trung tâm tọa độ trên đường hàng hải quốc tế. Bởi sự phong phú hấp dẫn của tài nguyên. Bởi ngọn núi Sơn Trà là bình phong án ngữ gió bão tàu thuyền,  đồng thời là đôi mắt trông ra biển khơi, quan sát và canh giữ vững vàng phía Đông thành phố.
       Sau khi được tin liên quân Pháp và Tây Ban Nha chiếm Đà Nẵng vào ngày đầu tiên của tháng 9 – 1858, Hoàng Giáp tam đăng Phạm Văn Nghị (1805 – 1880) lúc này ông đang ngồi ghế Đốc học Nam Định (tương đương với Giám Đốc Sở Giáo dục ngày nay) “Giận sôi, tóc dựng mũ, bút gát khá thua ai”. Ông liền tập hợp nhiều nhân sĩ  Bắc Kỳ, tổ chức đạo quân 300 người tình nguyện, cấp tốc vào miền Trung đánh giặc. Khi đến Huế thì nghe tin giặc đã lui và đã chuyển quân. Vua Tự Đức (1848 – 1883) chỉ dụ cho ông về lại Nam Định, với lời phê 4 chữ “Tuế hàn tùng bách” – Gặp năm rét mới biết cây tùng, cây bách là cừng cỏi.
      Về sự kiện lịch sử đầy nước mắt ấy, Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị đã để lại cho hậu thế bản tuyệt tác thi ca Trà Sơn quân thứ ( Hành quân vào Trà Sơn). Một khúc văn chương Việt Nam hào hùng yêu nước và cách mạng cận đại:
           Nộ mục Trà Sơn xu lỗ lai
           (Căm thù mắt thấy giặc cướp đánh Trà Sơn)
         …
        
          Như thử giang sơn như thử dân
           Thái bình quốc thế vạn niên xuân
           Nguyễn Văn Huyền dịch:
         (Sĩ dân đó, núi sông đó
           Muôn năm bền vững nước non này)
       Chúng ta có thể hoàn toàn khẳng định rằng, khí thế chống giặc Pháp vào mùa Thu năm 1858 của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng là sự nghiệp thiêng liêng, mở đầu cho sự nghiệp truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam anh hùng.
     Kiêu hãnh biết bao với Hoàng Giáp Lê Khắc Cẩn, bằng chất giọng hùng tráng, hào khí ngất trời. Giọng thơ dễ làm cho mọi người liên tưởng đến hình ảnh danh tướng Đặng Dung mài kiếm dưới trăng. Lê Khắc Cẩn đem nhập cái nguyên khí đất trời vào gươm, kiếm:
               Phải nên xông ánh sao để làm gươm
               Mượn gió gào để làm súng
               Thường ẩn nấp nơi núi Trà, trên các đỉnh cao
              Ở bể Cần, ngoài các khe vũng
                                         Lã Xuân Mai ( dịch)
    Những bài thơ đã xác lập về thời gian ra đời, đồng thời đã định hình cho sự tồn tại. Nếu như Hoàng Giáp tam đăng Phạm Văn Nghị nộ mục Trà Sơn, Hoàng Giáp Lê Khắc Cẩn xông ánh sao mài gươm., thì với Bảng Nhảng Phạm Thanh lại thể hiện khí thế qua bút pháp dũng mãnh, động viên, khích lệ, nêu cao ý chí quyết tâm chiến đấu:
                Nghe tiếng súng Non Trà nổ dữ
                Những muốn săn cho hết giống lợn dữ không tha
                Trông khói tàu Cần Hài bốc cao
                Những muốn chém cho hết loài cá kình mới hả
                Thẳng tiến để xông pha giết giặc
                Cái chết coi dễ như chơi
Đối với La Hữu Trung lại là nỗi cảm hoài sau khi Pháp rời Sơn Trà để tiến chiếm Vũng Tàu:
              Thuyền Tây khói lửa dọc ngang
               Lui nơi Đà Nẵng lại sang Cần Giờ
               Làm cho trăm họ ngẩn ngơ
              Trụ hương mưa bạt, diềm thờ ngó nghiêng
            
             Đó là những câu tâm huyết đau lòng “ứa” ra sau ngày 11 – 02 - 1859, quân Pháp rời Đà Nẵng, tiến quân đánh chiếm Cần Giờ (Cần Hài), một cảng biển nằm sát Vũng Tàu.
         Mặc dầu bọn giặc đã làm chủ trên đất liền cũng như trên biển vịnh. Nhưng chúng đâu có làm chủ được trái tim và ý chí của nhân dân Đà Nẵng bất khuất. Chúng chỉ nắm cái xác, đâu có nắm được phần hồn. Vườn không, nhà trống, phố hoang, người thưa vắng, đến nỗi làm cho chúng lo sợ, vô cùng ngạc nhiên, sững sốt trước một khoảng chân không khủng khiếp và hoang mang. Dân ta khẳng khái, không bao giờ chịu hợp tác với chúng. Điều này đã minh chứng trong một đoạn báo cáo của Đô Đốc Ri-Gôn Đờ Grờ-Nuôi-di, viết “ Chúng tôi hoàn toàn kiệt quệ. Cho đến lúc này phải bất động tại Đà Nẵng. Mọi phương diện để cải tiến tình trạng bộ binh và hải quân đều hết sạch và vô hiệu, Đất mà chúng tôi chiếm  được hoàn toàn bỏ trống, Dân chúng, nhất là giáo dân không hưởng ứng. Không có dân nổi dậy chống triều đình. Không có dân bất mãn cung cấp tin tức”.
        Tài liệu lưu trữ trong thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại ghi chép lại một sự thật vô cùng bi dát đối với họ: “ Ngay từ những ngày đầu, người Việt Nam đã tạo ra một khoảng trống chung quanh người Pháp, đạo quân con chiên mà Rigault de Grenouilly trông chờ, đã không xuất hiện. Trái lại, không có một con chiên nào dứng trong hàng ngũ Pháp và những lời cam kết cùng hứa hẹn của những người truyền giáo, là sẽ có mặt trong đoàn quân viễn chinh Pháp, đã không được chứng thực tí nào” .

       Tháng 11 – 1858,  nước sông Hàn, sông Nại Hiệp sục sôi, kiêu hãnh trước lòng dũng cảm của quân và dân ta. Các dũng tướng Đào Trí, Nguyễn Duy, Nguyễn Tri Phương, Lê Đình Lý đã hợp tác chiến đấu anh dũng, đẩy lui sức đánh phá của giặc.
      Ngày 22 - 3 - 1860, Pháp rút khỏi Đà Nẵng, quân và dân nơi đây đã dùng tre phên nện đất, chất đá làm thành lũy. Kết xích sắt ngăn sông,
      Tuy nhiên kinh nghiệm chiến trường trên bộ cũng như trên sông nước đối với chúng ta, một dân tộc có truyền thống yêu hoà bình, chuộng tự do, thì làm sao có thể chống trả được giặc trong tình thế cấp bách  trước sức mạnh của những đội quân chuyên đi xâm lăng! Mặc dầu vậy, nhưng vị tướng An Tây trí dũng Nguyễn Tri Phương đã buộc Pháp phải chuyển đổi thế trận theo chiến lược của ông trong cách bố trí quân tài tình. Ông dùng thuyền nhỏ, chia quân thành phân đội. Áp dụng chiến thuật du kích, phản công bất ngờ,  gây bối rối tinh thần quân địch. Chinh phục bằng nhiều gói nhỏ (Conquête en petis paquets), đưa chúng đến chỗ sa lầy.
         Chiến thắng kiên cường và quả cảm của quân dân Đà Nẵng, giặc Pháp đã để lại một tháp hài cốt chứa hàng ngàn thánh giá!
        Về phía ta, hai nghĩa trũng Phước Ninh và Hóa Khuê – những nghĩa trũng đầu tiên của đất nước, được tưởng niệm dựng lên vào năm 1862 theo chỉ dụ của vua Tự Đức (1848 – 1883) – một  chứng tích thiêng liêng trên quê hương yêu dấu.
    Đà Nẵng của không gian xanh nắng, của Non Nước Ngũ Hành Sơn kỳ ảo, của bầu trời khác lạ khi từ Huế - Xứ Mưa buồn, vừa vượt quá Hải Vân. Sự chuyển dịch bất ngờ về thời tiết hai nơi, đã làm cho Tản Đà xúc cảnh;
            Hải Vân đèo lớn vừa qua
           Mưa Xuân thoắt đã đổi ra nắng hè
    Và cái nắng hè ấy, bầu trời xanh binh yên thơ mộng ấy đã bị giặc hóa mây u ám, để tròng vào cổ người dân Đà Nẵng cái ách nô lệ, buộc vào đôi chân sợi xích đi xâu, khóa vào đôi tay mười ngón bòn vàng. Từ đó đã phát sinh nên lời ca dao thống thiết:
             Đứng bên ni Hàn
             Ngó qua bên tê Hà Thân
             Nước xanh như tàu lá
             Đứng bên tê Hà Thân
             Ngó về Hàn, phố xá nghênh ngang
             Kể từ ngày Tây lại, Sứ sang
             Đi xâu, nộp thuế, làm đàng khổ thân

      Hãy lắng sâu tâm hồn bằng nhịp đập trái tim yêu quê hương, bằng những đảo phách ngậm ngùi. Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau bị nô lệ. Ngôn ngữ hình như trở nên bất lực trước sự diễn đạt của tấm lòng xót xa thăm thẳm!   Hình ảnh nước xanh như tàu lá, vẽ ra bức tranh xanh xao, nhợt nhạt, gió xé tơi tàu lá quê nghèo.
     Ngó về Hàn, phố xá nghênh ngang. Ơi con phố ngược ngang gót giặc, mà cùng là con phố đô thị hóa ồn ào. Và kể từ ngày ấy, ngày Tây lại Sứ sang, biết bao nỗi lầm than ụp xuống đầu người dân cơ cực. Hoàn cảnh đã kết thêm những lời dị bản ở câu cuối của bài ca:
         Kể từ ngày Tây lại đất Hàn
         Dào sông Câu Nhí, bòn vàng Bông Miêu
         Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
         Ở nuôi phụ mẫu, sớm chiều có nhau
Và câu cuối ấy, được chuyển đổi lời ca:
         ( Mưa mai có bạn, mưa chiều có ta)
         ( Trăm năm đi nữa, lá cờ điều cũng đừng phai). Lời thủy chung son sắt
         Ngày 26 – 8 -1945, sau khi Đà Nẵng cướp chính quyền, giành độc lập. Thành phố được vinh dự mang tên nhà yêu nước Thái Phiên. Nhưng rồi chúng ta lại phải đương đầu với bọn thực dân tái chiếm quê hương:
            Thành Thái Phiên đắm mình trong máu lửa
             Đất anh hùng lần nữa quyết hy sunh
                                                                                                              (Tế Hanh)
       Những năm 1946 – 1947, tinh thần chiến đấu chống đế quốc Pháp xâm lược của quân – dân Đà Nẵng đã cuộn vào dòng thác lũ cả nước đồng tâm đứng dậy diệt thù. Những trận dánh địch dọc theo phía Nam sông Cẩm Lệ, phá cầu Thủy Tú, ngăn chận bước tiến quân dịch. Tự vệ dùng bom phá sập nhà máy đèn. Bộ đội ta suốt một ngày quần nhau với giặc tại cổ viện Chàm. Nơi bốt đội Cang, say men chiến đấu. Quân Pháp hoảng kinh, chạy trốn vào chùa Phật học.
      Các ngày 20 và 21 - 12 – 1946, bộ đội liên kết với dân quân tự vệ Đà Nẵng, Hòa Vang hợp tác chiến đấu đánh địch tại chợ Mới
      Từ ngày 23 - 12 - 1946 đến ngày 07 – 01 – 1947, Pháp đánh ra ngã tư Yên Khê, gặp phải sự kháng cự dũng mãnh và quyết liệt  của tiểu đoàn 19. Địch bị đẩy lui.
       Cuối tháng 12 năm ấy, tại bến đò Xu, tiểu đoàn 101, trung đoàn 93 đã cho hằng 100 tên lính Pháp về chầu Hà bá. Ngày 07 – 01 – 1947, quân giặc tại cấm Hòa Mỹ bị ta đánh tan. Tại Đa Phước, chúng bị đẩy ngược. Những cuộc “tổng nhiểu loạn” gây cho Pháp hoang mang, lo sợ. Pháo của ta từ bến đò Xu nã vào vị trí địch. Mìn của ta đặt trên đầu máy xe lửa, mở máy chạy thẳng vô sân bay. Chúng hoảng hốt. Ôi! Những trận đánh ngoạn mục.
        Trước chiến thắng hào hùng của quân và dân Đà Nẵng. Xuất sắc, kiên dũng ngay từ những ngày đầu kháng chiến. Sự mưu trí và dũng lược ấy, đã được Phạm Văn Đồng,  đại diện Trung Ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ, tặng lá cờ “giữ vững”. Trong đó có lời khen :” So với toàn quốc, mặt trận Đà Nẵng được liệt vào hàng đánh mạnh nhất và dẽo dai nhất”
       Sách Lịch sử Việt Nam 1897 – 1918, Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 1999, chúng ta cùng lật ra trang 360, dọc những lời nhận xét của nhà sử học người Pháp, Jean Chessaux, viết năm 1955 :”Hạm đội Pháp tới thả neo trước cửa biển Dà Nẵng hôm 31 – 8 - 1858, không phải là nó tới Việt Nam để thực hiện một sứ mạng lịch sử nào cả. Trái hẵn lại, nó đã cắt đoạn những khả năng thực tế phát triển tự thân có sẵn trong dân tộc Việt Nam. Nó sẽ làm chậm lại sự tiến triển, chớ không phải là thúc đẩy dân tộc Việt Nam tiến nhanh hơn” Những lời nhận xét khách quan và trung thực của một sử gia tên tuổi.
       Hơn một thế kỷ sau, hay nói một cách chính xác, sau 107 năm (1858 – 1965), kể từ  ngày 01 - 9 - 1858. Ngày 03 - 8 - 1965, nhân dân Đà Nẵng, thêm một lần nữa, lại phải đối mặt với những thách thức mới. Tiểu đoàn 3, lữ đoàn 9 Thủy quân lục chiến Mỹ, lần đầu tiên đưa quân đến Dà Nẵng, gây thành một cuộc chiến tranh xâm lược cục bộ. Từng bước leo thang đánh phá miền Bắc.
    Anh Huỳnh Ngọc Anh, sau này cải danh thành Huỳnh Trung Việt, để che dấu lý lịch hoạt động cách mạng ở nội thành Đà Nẵng. Hiện nay anh đang sống tại xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa), nhớ thật rõ:  “Để tiến tới kỷ niệm 5 năm, ngày thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (1960 - 1965). Tháng 12 – 1965, đại diện lực lượng Thanh niên – sinh viên – học sinh Đà Nẵng, đã họp tại nhà ông Phan Liêu, ngõ kiệt số 9, đường Hoàng Diệu. Các thành viên gồm có: Hồ Ngọc Ninh, quyền bí thư thành đoàn. Hồ Duy Lệ ( cựu chủ tịch Hội Văn Học Nghệ Thuật tỉnh Quảng Nam, đã nghỉ hưu). Phan Hoàng ( Hoàng Liêu ) hy sinh năm 1972…Anh Khâm, anh Linh…Họp nhau bàn luận phương kế đấu tranh,  tuyên truyền, phân phát những tờ rơi dưới hình thức quay rô-nê-ô”.                    
       Tại bãi biển Thanh Bình, học sinh kết chuối cây làm bè. Cắm cờ giải phóng, treo biểu ngữ chống lại nhà cầm quyền. Quân đội Mỹ và lính công binh của Nguyễn Văn Thiệu tại Đà Nẵng, cho xe thiết giáp ầm ầm kéo xuống, tháo gỡ. Việc làm ấy đã góp một phần nhỏ mở ra cho hành động xuống đường.
      Năm 1966, là người được dự chứng sự nổi dậy của đồng bào, sinh viên và học sinh làm chủ thành phố Đà Nẵng ruột thịt trong hai tháng rưởi, hưởng ứng phong trào khởi xướng của tướng Nguyễn Chánh Thi, phản kháng sự điều hành đất nước của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Binh lính và cảnh sát trung thành với chế độ, luôn luôn trong tình trạng đối phó. Đạn súng lên nòng, đầu đội nón sắt, lưng thắt dây nịt xanh - tuya - rông (cinturon) dắt quanh đầy lựu đạn. Chúng kiểm tra tuần hành các ngỏ phố, bưu điện, dọc bờ sông. Vậy mà nhân dân Đà Năng vẫn làm chủ thành phố trong suốt 76 ngày đêm náo nức.
       Những sự kiện đã tạo cho con người Đà Nẵng một phẩm chất cao quý, ưu việt cần thiết để chống lại mọi thù địch. Người dân luôn luôn ý thức sinh động về sự hiện hữu và trách nhiệm chính bản thân với Đà Nẵng thân yêu.
       Đúng 10 năm sau cuộc đỗ bộ của quân đội Mỹ lên thành phố Đà Nẵng.  Ngày 29 - 3 -1975, ngày đánh dấu trang lịch sử hào hùng, rực rỡ. Toàn quân, toàn dân thành phố Đà Nẵng đã kết nên vòng hoa chiến thắng kiêu hãnh, giải phóng hoàn toàn biển – phố thân yêu. Một nét son của cuộc hành trình dân tộc muôn đời. Về đỉnh cao vinh quang này, nhà thơ Lữ Huy Nguyên (1939 – 1998) đã nối thành dòng chảy hào hùng. xuyên suốt 120 câu phối cảm. Khổ giữa của bài thơ “ Ngực thành phố  - Trái tim và ngực thở”, vang lên lời hào sảng:
               Đà Nẵng ơi!
              Hơn thế kỷ qua đi
             Những năm tháng triền miên ngạt thở
             Từ chiến hạm Cô – sanh – sin
             Ngút trời đạn nổ
          “Trà Sơn rách mắt giặc Tây tràn”
 
     Đà Nẵng là một trong những nơi được đô thị hóa sớm nhất trong cả nước. Năm 1898, thành phố được xếp loại 2, cùng với Chợ Lớn, dứng sau Hà Nội, Sài Gòn và Hải Phòng.
        Tháng 10 – 1975, tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng hợp nhất với tên gọi Quảng Nam – Đà Nẵng.
       Danh xưng về một giải đất gắn liền như hai anh em trong một nhà. Và khi hai anh em đã trưởng thành, có thể vững vàng tự lập. Đó chính là thời gian bắt đầu cho hai anh em ruột thịt tách riêng trong một dại gia đình tổ quốc. Ngày 01 – 01 – 1977, thành phố Đà Nẵng được chính thức trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung Uơng.  Tỉnh Quảng Nam từng bước củng cố, xây dựng, dần dần thăng tiến, và Đà Nẵng vươn đôi cánh rộng tiềm năng, luôn luôn phát triển để xứng đáng với vị trí địa lý – lịch sử - tiền cảng quan trọng, kiên cường với thế đứng vững bền của trung tâm đất nước Việt Nam muôn đời.
     Ngày 17 - 7 - 2003, thành phố Đà Nẵng được chính phủ công nhận là đô thị loại I .
      Sáu năm sau ngày đăng quang ấy, Đà Nẵng luôn luôn thể hiện tính ưu việt vốn có, tính năng động  của một nền văn hóa không bao giờ tĩnh tại – một nền văn hóa chiến thắng kiên trung. Tháng 7 – 2009, những đức tính quý báu ấy đã nối nhịp kỳ diệu chiếc cầu treo dây võng 2000 mét bắc qua sông Hàn. Chiếc cầu thẫm mỹ hiện đại dài nhất Việt Nam, nối Hải Châu với bán đảo Sơn Trà. Chiếc cầu khúc xạ hai ngọn nước giao thoa mặn ngọt. Biển và sông hợp lưu con nước thủy chung. Chiếc cầu dây võng thênh thang 18 thước, xuôi ngược hai lằn xe, dã tạo ra cho thành phố một thế nhìn đối diện với biển bao la.
       Dòng văn hóa không bao giờ tĩnh tại – luôn luôn tiếp biến. Nền văn hóa của chiến thắng. Vị trí địa lý – lich sử như vậy. Địa linh sinh nhân kiệt, sẽ tất yếu sinh ra những con người Quảng Nam – Đà Nẵng như vậy, trong mọi thời đại.
             
Tài liệu tham khảo

         Lịch sử Việt Nam 1897 – 1918, Nhà xuất bản Hà Nội, năm 1999
        Anamach – Những sự kiện lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999
       -Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 – 1975, Viện lịch sử Hà Nội, 1992
        -Tìm hiểu con người Xứ Quảng, Nguyên Ngọc (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, 2005.
        - Huỳnh Thúc Kháng – con người và thơ văn. Nguyễn Q. Thắng, Nxb Văn học, năm        2001.
        - Văn học Dân gian Quảng Nam, Nguyễn Văn Bổn – Sở VHTT Quảng Nam, 2001.

        - Văn Nghệ Dân Gian Đất Quảng, số Xuân Ất Dậu. Hội VNDG Đà Nẵng.