Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017

Cá rầm...âm thầm nỗi nhớ

Hương Thu

Sau tiết Bạch Lộ - sương trắng, cái “nắng tháng Tám rám trái bưởi” không còn nữa, khí trời đã chuyển thay, bắt đầu cho mùa mưa gió. Ngoài chợ nhìn thấy trái Nam Trân là nhớ đến câu ca “lụt nguồn trôi trái lòn bon”. Quanh trước Trung thu vài ngày, trời thường đổ mưa. Thời tiết vào thời điểm này dường như tôi nhớ rất rõ, bởi nó gắn với ngày 13/8 âm lịch là ngày kị của một người trong gia đình. Có năm, những người thân phải bơi ghe đến nhà để dự lễ cúng. Cũng mùa này là thời điểm thiên nhiên đã ban tặng cho người dân quê những vật sản của suối nguồn, đồng bãi thuần chất tự nhiên, là thời nào thức nấy, là miếng ăn nhớ đời. Đó là những dế cơm trên đồng, cá gáy đầu nguồn, cá rễ tre mùa lụt, trứng cá vàng tươi… Có một thứ mà tôi đeo bám suốt thời phổ thông trong cái gió lạnh mưa dầm, chân tay nheo-trắng bởi ngâm lâu trong nước, là hương vị cá rầm trong mùa lụt.
Khi nhà trường thông báo cho học sinh nghỉ học để về nhà sớm tránh mắc lụt là tôi chạy ù về nhà. Ra sau hè, hạ bộ tủ (trũ/vó) đầy bụi bặm suốt gần tròn năm trên gác trơ trọi. Không cần phủi bụi. Cứ thế vác chạy ra bến sông Ái Nghĩa ở đầu Thủy lợi, nơi có trạm bơm Đại Phước (nay là công viên Ái Nghĩa). Sở dĩ chọn địa điểm này là vì đây là ngã ba nước, cá từ trong sông Thủy lợi theo ra sông lớn, cá từ nguồn xuôi dòng xuống đây rồi ngược vào sông Thủy lợi để vào đồng ruộng tìm nơi đẻ trứng. Kéo rút 4 gọng tủ, căng màn tủ vào 4 đỉnh gọng theo cách thắt cổ chó. Dùng hết sức nhấc cần tủ để đưa bộ tủ ra mép sông. 4 đỉnh gọng đã chìm xuống nước, nhưng màn tủ ở giữa vẫn bập bềnh không chìm hẳn do để lâu ngày và giờ chưa thấm đều nước. Nhưng rồi nước lũ chảy mạnh hơn so với dòng chảy hiền hòa thường ngày nên cũng đã làm chìm màn tủ xuống sát đáy nước. Cứ chặp chặp 3 - 5 phút là kéo tủ lên để bắt cá. Cá bắt được bỏ vào vịt tre mắc trên cái cọc cắm bên cạnh. Giữ được cá sống đến lúc mang về nhà. Cứ khoảng 15 - 20 phút hoặc có lúc ít hơn, phải lùi cả người cả tủ về phía sau một đoạn, bởi nước “lớn” dần. Đồng loạt mười mấy người cùng tịnh thoái.
Trong khoảnh khắc để tủ dưới mặt nước, tôi hay nhìn ra giữa dòng. Nước sông trở nên đục vàng, nổi bọt, cuộn xoáy, khắc hẳn ngày thường. Thỉnh thoảng lềnh bềnh những đám rều đang ào ào trôi theo dòng nước, có số mắc lại ở các chân cầu. Hay những lúc tôi ngước lên nhìn những đám mây đen đang ùn ùn từ phía Đà Nẵng bay lên nguồn. Cứ nhìn những đám mây ấy là có thể đoán được lụt to hay lụt nhỏ. Hoặc có lúc tôi nhìn thẳng về phía cầu trước mặt để ngắm người qua lại. Có lần nhìn thấy bóng dáng cô bạn học cùng lớp đi trên cầu mà lòng xốn xang như những vòng xoáy trên mặt sông. Trong một mùa lụt khác, tôi thả tủ ở cầu Phốc, cũng nhìn thấy hình ảnh cô ấy đang đi tới, tôi cứ cúi lì mặt nhìn xuống dòng nước chảy dưới chân. Tôi muốn màn mưa và bóng nước che thân tôi như Chử Đồng Tử vùi mình trong cát để lánh mặt Tiên Dung.
Vì tủ có diện nhỏ, lòng nông, nên chỉ có thể bắt được những loại cá chỉ vừa ngón tay. Nhưng thỉnh thoảng cũng được vài con cá dưng to đến 3 - 4 ngón tay. Cảm giác cất tủ mà được những “em” này vô cùng thích thú. Nó nghiêng mình lướt mạnh quanh màn tủ, vẽ nên những “đường trắng” trong màu nước vàng đục. Có khi nó phóng mạnh thoát ra khỏi tủ, lòng ngẩn ngơ. Người quen thả tủ bên cạnh cười tiếc rẻ. Người ta bảo, nhất chạng vạng nhì rạng đông. Mọi người được nhiều cá đã về trước, tôi còn tham tiếc ở lại đến chặp tối. Những đường lượn trắng của cá trong tủ làm tôi liên tưởng sợ hãi. Và rồi cũng vội vã tháo tủ vác về.
Mớ cá thu hoạch này đem chế biến làm thức ăn mặn cho những ngày mưa lụt. Cá mùa này hầu hết đều đầy ắp bụng trứng. Thức ăn mùa mưa lũ dồi dào nên nhìn còn nào cũng “mập chắc”. Những loại cá nhỏ như cá bống, cá mương, cá cấn, cá rễ tre, cá ngạnh… cùng với tôm tép đem kho mặn với lá nghệ. Những loại cá sặt, cá thác lác thì bằm nhỏ làm chả cá để dành nấu canh chua. Con dưng con diếc thì nấu ngọt với rau răm để làm canh. Những con rô đồng trong sông Thủy lợi đem nướng than rồi dầm mắm gừng để cảm nhận vị thơm, béo, ngọt tự nhiên.
Nếu chỉ ăn những loại cá ấy thôi thì chưa đủ cảm nhận hết đặc sản mùa lụt. Mà cũng đâu cần phải đợi đến thời điểm này. Chỉ khi nào thưởng thức được hương vị cá rầm kho lá nghệ thì mới trọn vẹn hương đồng vị sông được nuôi dưỡng từ suối nguồn. Cây lụt trước, cá trên nguồn về ngược vào đồng ruộng tìm chỗ đẻ trứng. Đến những cây lụt sau, những đàn cá con - mà dân quê gọi là cá rầm - theo dòng nước giựt mà ra lại sông để ngược về nguồn. Cá là loài sinh sản ra rất nhiều cá bột, cho nên cá rầm sau mùa lụt nhiều vô kể. Việc bắt nó hết sức dễ dàng. Nội tôi kể, hồi trước chỉ cần đem cái sàng ra đầu ngõ, tấn hứng theo dòng nước chảy là có thể bắt được rất nhiều cá rầm. Nghe bảo có năm nhiều phải đem làm mắm để dành, nhưng tôi không biết mắm đó để được bao lâu, hương vị thế nào. Ngoại tôi thì dùng hàng chục cái nhá có bỏ mồi nhử vào trong rồi đem ra cắm đầy trên đồng ruộng. Nhá là dụng cụ bắt/bẫy cá đan bằng những cọng tre to bằng que xiên, dáng thon thon thoi thoi hình hạt xoài, đường kính giữa thân khoảng chừng 15 cm, cao khoảng 20 - 25 cm, có hom ở giữa phần thân. Mồi nhử làm băng cơm trộn với mè rang cùng giã nhuyễn, rồi vò lại thành từng nắm gần bằng quả trứng. Chạng vạng tối đặt nhá, sáng sớm hôm sau ra dở nhá và thu hoạch. Tôi thì quen với việc thả tủ để bắt cá rầm.
Khi nước lụt bắt đầu giựt, nước trên đường cái ra trường Mĩ Hòa ngang đầu gối là thời điểm tôi vác tủ ra “tác nghiệp” ở chỗ Thạch Bộ. Nơi đó vô cùng đắc địa. Phía trên là một vùng đồng ruộng bao la của Đại An, Đại Hòa, phạm vi dòng nước băng qua đường cái rất hẹp nên đặt tủ “hứng” cá phía dưới con đường rất thuận tiện và dễ dàng. Mỗi lần cất tủ lên, một đàn cá to bằng đầu đũa và đều tăm tắp nhoi nhoi trên mặt tủ. Cảm giác cầm gáo dừa xúc cá bỏ vào giỏ vịt như đong gạo vào hũ. Liên tục đều tay. Chỉ vài tiếng là nước không còn băng qua đường, đổi vị trí đặt tủ lên phía trên, nhưng lúc này cá có vẻ ít dần. Giỏ vịt cũng đã đầy rồi, thu gom đồ bỏ lên xe đạp đi về nhà.
Cá đem về rửa lại nước sạch, để ráo nước trong rổ rá. Sau đó ra vườn cắt tầm chục lá nghệ non. Đem vào tước theo thớ lá, bỏ cọng. Đem phần lá đó rửa sạch, rảy khô, cuộn lại rồi xắt chỉ như người ta xắt thuốc rê. Khử thơm dầu phụng rồi cho cá vào, đun nhỏ lửa, cho mắm muối gia vị. Trông chừng cá gần chín rồi thì rải lá nghệ lên, đun thêm một chút nữa rồi nhắc trã xuống. Dạng cá bột nên ăn rất mềm và giàu chất dinh dưỡng. Hèn chi trong ẩm thực Việt Nam, người ta thường chọn thức ăn còn non - dạng “bao tử”: trứng lộn, nhộng, heo sữa, thịt bê, thịt nghé, bồ câu ra ràng, dế non, đuông…; giá, cốm, măng… Đến lửa thứ 2 thứ 3, con cá kho càng thêm đậm đà. Người ta bảo “có cá đổ vạ cho cơm”, lại thêm mùa mưa lạnh nên tốn cơm vô cùng. Bụng đã căng tròn nhưng vẫn cố, bởi một năm chỉ có một mùa.

4 năm sinh viên Huế, nhớ quay quắt vị cá rầm kho nghệ trong những mùa mưa lụt. Sau này về Đà Nẵng làm việc, cứ mỗi mùa cá rầm là má kho một nồi đất nhỏ gửi ra để dành ăn dần. Cô bạn gái xứ Nghệ phải lòng hương vị thổ sản này mà về làm dâu Đại Lộc. Tình cảm mẹ chồng nàng dâu trở nên “ngọt - bùi, mềm mại” như chất vốn có của loại cá rầm, bởi mỗi mùa như vậy, con dâu nhờ mẹ chồng gửi cho một nồi cá rầm kho nghệ. Mấy năm rồi, quê không còn lũ lụt nữa, bởi những công trình thủy điện, nên cá rầm cũng chẳng thấy đâu. Trong những ngày mưa bão, lòng nhớ về hương vị cá rầm như gió cứ giật liên hồi. Không biết từ “cá rầm”, “nhá” đã được liệt kê vào từ điển tiếng địa phương của Quảng Nam hay chưa?

Củi lụt

Hương Thu

Người dân quê tôi thường sử dụng rơm rạ, thân cây hoa màu như ớt, bắp, các loại cây họ đậu… để làm chất đốt quanh năm. Gia đình nào có đàn ông khỏe mạnh, dạn gan thì trong năm làm một chuyến củi nguồn, thời gian đi chặt củi rừng và kết bè thả theo đường sông về nhà phải mất gần tháng. Có gia đình lại đi chặt củi núi ở Đại Hiệp, một ngày được 1 hoặc 2 bó, chở về bằng xe đạp. Gia đình tôi chỉ có được củi núi củi rừng nhờ vào mỗi khi mùa bão lụt đã bơi ghe đi vớt.
Sau vài đêm mưa to gió lớn, nước lũ trên nguồn đã đổ về mang theo biết bao sản vật của núi rừng. Trong đó củi lụt là thứ được nhiều người dân hân hoan và có thời gian sử dụng lâu nhất. Các gia đình có ghe nhẹ như ghe nhôm thường bơi ra phía cửa sông/mương Thủy lợi (chỗ công viên Ái Nghĩa hiện nay) để đón và vớt những khúc củi hay khúc gỗ lớn. Bởi dọc 2 bên bờ sông, người ta trồng tre để chống sạt lở, nên củi lụt tới chỗ cửa sông này là tấp vào theo hướng dòng nước. Các gia đình khác thì bơi ghe tập trung ở chỗ Gò, củi lụt trôi xuống đụng gò đất và hàng rào bằng cây của nhà dân chung quanh đó nên mắc lại. Mới nhìn vào, trông nó như một bãi rác mênh mông cả bãi gò. Phía trên là những “mạt” củi và các loại cây thân nhỏ như cây sặt, cây sậy, thậm chí, nguyên cả một bụi sậy đầy gốc rễ, thân lá đóng tụ từng lớp. Gặp những loại này mọi người không vội vớt lên ghe. Người ta cho ghe đậu phía trước của bãi củi lụt đó, hướng ngược theo dòng nước chảy tới để dõi nhìn những khúc củi trôi đến. Cứ thế vớt bỏ lên ghe. Một cách khác, lấy cái dầm nhấn mạnh cả bè rều xuống dưới nước, theo quán tính, khúc củi ở lớp dưới sẽ bật mạnh lên, như vậy nhìn thấy được và vớt lên ghe. Hoặc lội luôn xuống nước, vì đứng trên gò đất, nước không lút đầu, lấy tay mò xuống phía dưới để tìm củi to.
Khoảng độ non 2 tiếng đồng hồ là ghe đầy ắp củi lụt. Những ghe khác đã về trước, vì ghe nhỏ hơn; còn ghe nhà tôi là dạng ghe “bầu” (bụng ghe to) nên còn phải vớt củi thêm. Sở dĩ ghe nhà tôi to là vì trước đây ông cố, ông nội tôi phải đan sắm ghe này để chở rơm, cỏ cho trâu đã được đưa đi tránh lụt ở trên đồi Ái Nghĩa. Tôi nghe ba tôi kể, có lần bơi ghe dắt trâu lên đồi, trâu bơi đuối sức bèn gác đầu lên be ghe, ghe nghiêng hẳn về một phía nhưng vẫn không lật. Kinh nghiệm dắt trâu tránh lụt, người ta thường thả mũi trâu (dây mũi) có một khoảng cách nhất định so với ghe để đề phòng trâu đuối sức mà gác đầu lên làm lật ghe. Nhưng có lẽ vì mấy con trâu của nhà là dùng để lấy sức kéo ép mía làm đường, nên gia đình đã tiếc của mà cho nó “làm liều”. Khi củi đầy ghe, cứ thả xuôi theo dòng chảy là về tới nhà. Chèo ghe ra mái tôn sau chái, lượm củi trong ghe vứt lên mái tôn. Lúc này mặt nước lụt cách mái tôn chưa đầy 2m. Mọi khi muốn phơi phóng gì trên mái tôn, phải bắc thang trèo lên thật vất vả. Xong, lại tranh thủ đi chuyến khác. Ngày cũng được 4 - 5 chuyến củi lụt. Những ngày lụt sau, hết củi ngon, vớt cả rều chở về bỏ ở một góc vườn, chờ nước giựt và nắng lên sẽ xử lí dần dần.
 “Cây khô xuống nước cũng khô”, củi lụt mới vớt về nhưng vẫn có thể dùng được ngay. Vào mùa lụt, cái bếp cố định mọi khi không thể sử dụng được nữa, phải chế cái bếp tạm và bắt buộc đun bằng củi mới có thể được. Một số củi lụt mới vớt về chỉ ướt nước bên ngoài chứ không thấm nước vào bên trong, bởi những cây củi này đã rụng gãy từ lâu trên rừng, phần vỏ bên ngoài đã mục hủy, chỉ còn lại phần lõi bên trong, nay có nước lũ cuốn trôi xuống vùng xuôi. Những cây củi này xếp quanh bên bếp để hơ nóng, sau đó dùng để đun luôn. Cứ liên tục như vậy. Loại củi này đun rất đượm, nhờ nó mà vẫn có bữa ăn ngon như mọi khi, bởi lửa không bị tắt trong điều kiện mưa tạt, gió lùa và xung quanh là nước lụt.
Ngày thường, nhà tôi phải quét cả lá tre để làm chất đốt. Cho nên, vào mùa lụt, tôi rất ý thức về việc tranh thủ vớt củi lụt về sử dụng. Có lần, trong đêm trăng lờ mờ, một mình tôi bơi ghe lên gò vớt củi. Lúc xuôi ghe, lòng tôi hân hoan và đắc ý khi nhìn chiếc ghe “bầu” đầy củi. Vừa chèo ghe vào ngõ, ba tôi đã lội nước đứng sẵn ở đó. Ba tôi kéo mũi ghe vào, và đuôi lái - chỗ tôi ngồi - vừa lướt tới trước mặt, tôi bị liên tiếp những cây roi vụt vào người. Hóa ra, ba tôi đã đợi tôi về từ lâu để trị cho một trận vì tội “ngu”. Mà ngu thiệt, giờ nghĩ lại sao hồi đó ngu và liều như vậy, mới chỉ là học sinh cấp 2. Nếu có tự tin vào việc bơi ghe lội nước cẩn thận của mình thì cũng làm sao mà hiểu được sự lo lắng của người lớn cơ chứ.
Lúc vớt củi lụt, dường như không để ý gì đến những loại cây, hình thù của nó. Nhưng qua mùa lụt, khi trời nắng ấm trở lại, bắt đầu phơi củi lụt, phân loại và cột bó lại theo kích cỡ thì mới có dịp nhìn kĩ hơn sản phẩm củi lụt. Những ống giang, ống nứa cất riêng để dành làm lạt buộc mạ cho vụ cấy đông xuân cận kề hoặc cất giàn bếp để chẻ làm ghim quấn quản con giống. Những cây săn thẳng thẳng bó riêng để làm giàn đặt trành con giống hoặc làm giàn bầu giàn mướp sau tiết xuân. Những khúc củi to xếp riêng trên chồ để dành nấu các loại bánh ngày Tết. Những đoạn củi ngắn thì bó riêng để chụm hằng ngày. Thỉnh thoảng có những nhánh củi có hình dáng đẹp lạ, cầm lên ngắm nghía hồi lâu, cứ tạm để qua một bên, nhưng rồi vài tháng sau cũng thành tro, vì lúc ấy không biết chơi gỗ lõi như bây chừ. Lúc nhỏ, vẫn thích nhất là những quả tràm màu nâu loáng bóng, to hơn cái mề gà trống thiến. Dùng 2 quả để gõ trực tiếp vào nhau hoặc dùng dùi trống cơm để gõ, coi nó như là một cái mõ của riêng mình.
Đống củi rều vun cao ở góc vườn. Cứ nhặt dần dần những nhánh củi lớn như chiếc đũa bếp phơi khô dùng trước, rồi về sau đến những nhánh củi như chiếc đũa thường. Đến hè, còn lại những mẩu củi nhỏ-ngắn như điếu thuốc, phơi khô dưới cái nắng gắt cũng cháy ngon lành. Những bột vụn dùng un bếp để giữ ấm hay hầm thức ăn hoặc sắc thuốc bắc rất tiện lợi. Tro củi lụt làm giàu dinh dưỡng cho đất.

Mấy năm nay không còn lụt để tìm về cảm giác đi vớt củi lụt của ngày xưa, nhưng củi lụt đã cho tôi một sự nhận thức về nhân sinh. Ngày trước, củi lụt làm chất đốt cho người dân ở vùng hạ lưu, mang lại kinh tế cho những gia đình chuyên vớt củi lụt để bán. Ngày nay, củi lụt tố cáo việc khai thác gỗ lậu, lên tiếng báo động sự phá hoại tài nguyên rừng, là dự báo những biến đổi khí hậu khôn lường trong tương lai.

Thợ rèn

Nguyễn Thị Pháp

Gấp trang giáo án và cái cảm giác lâng lâng sung sướng đang tràn ngập trong lòng tôi khi đã giúp các em tiếp cận được trích đoạn thật hay, đầy tính nhân văn của nhà văn Pháp nổi tiếng ở thế kỷ XIX (1850 – 1893). Đó là trích đoạn “Bố của Xi-Mông”. Đoạn truyện kể rằng: Bác thợ rèn Phi-lip, từ lòng yêu thương, quan tâm đến con trẻ (thấy Xi-Mông ngồi bên bờ sông khóc, bác Phi-lip an ủi, rồi sự việc ấy đã mang đến cho bác Phi-lip một hạnh phúc bất ngờ. Bác Phi-lip được làm bố, Xi-Mông có bố… Qua trích đoạn truyện “Bố của Xi-Mông”, Mô-pa-xăng muốn gửi đến bạn đọc thông điệp về lòng yêu thương bè bạn, mở rộng ra là lòng thương yêu con người. Kết thúc bài học, các em hớn hở vì từ nay Xi-Mông đã có bố Phi-lip thợ rèn. Hình ảnh bác Phi-lip thợ rèn có lòng thương người đã để lại ấn tượng đẹp đẽ trong các em.
Trống đánh hết giờ, tôi chào các em toan bước ra khỏi lớp, bỗng có một giọng học sinh rụt rè:
- Thưa cô, bác Phi-lip làm công nhân thợ rèn là làm nghề gì vậy ạ?
Câu hỏi của em học trò nhỏ đã đưa tôi về ký ức tuổi thơ…. Tôi nghe như đâu đây văng vẳng lời mẹ dặn:
- Mày chơi ở đâu thì chơi, chứ đừng vào lò rèn nguy hiểm nghe con!
Cái từ “nguy hiểm” được mẹ nhấn mạnh, kèm theo ánh mắt “nghiêm trọng” của mẹ khiến tôi rất sợ, dù không biết nó nguy hiểm như thế nào. Cái lò rèn ấy nằm ở giữa xóm tôi. Tôi nhớ như in nó giống như cái chòi, mái lợp tranh, bốn bên vách trống. Chính vì thế mỗi lần đi học ngang qua đó, tôi không dám nhìn vì sợ “nguy hiểm” nhưng cũng thấy hết mọi hoạt động ở cái lò rèn ấy.
Này nhé! Trong cái chòi ấy có một bác ngồi trên cái ghế đẩu cao tít, hai tay kéo lên, kéo xuống hai cái cây trong hai cái ống tôn to, vang ra âm thanh “khò, khò” khiến đống than dưới đáy ống đỏ cháy lên. Lại có một bác khác ngồi bệt dưới đất, cạnh đống than đỏ, tay cầm 2 cái que dài đẩy tới, đẩy lui mấy thanh sắt đang nung đỏ ở đống than. Xem chừng thấy thanh sắt đỏ hồng đều rồi, thì bác gắp ra để lên một cục sắt to rộng dài đặt kiên cố trên nền đất cạnh chỗ bác ngồi (sau này tôi mới biết đó là cái đe). Rồi hiểu thêm thành ngữ “trên đe dưới búa” là gì, và có lẽ thành ngữ này cũng bắt nguồn từ việc làm vất vả của bác thợ rèn!. Khi thanh sắt nung đỏ được để trên đe thì có một bác đứng sẵn bên cạnh cầm cái búa sắt to nện xuống liên hồi, nhịp nhàng vào thanh sắt nung đỏ. Bác ngồi thì cứ đỡ lấy thanh sắt đỏ lật qua, lật lại cho bác kia đập. Đập một lát thì bác lại bỏ vào lò than đỏ nung. Cứ thế bác thì thổi than, bác thì nung sắt, bác thì giũa sắt, âm thanh trong lò rèn cứ vang lên “chát chát” nghe chói tai, mồ hôi các bác thợ rèn rơi thánh thót, thánh thót. Các bác suốt ngày cứ cặm cụi, hì hục, thổi, đập, rèn.
Có lần tôi được mẹ dẫn vào tận lò rèn ấy để mẹ sửa con dao xắc chuối. Lúc đó tôi mới hiểu được bác thợ rèn hì hục, cặm cụi làm cái việc nhọc nhằn đó để cho ra đời các sản phẩm bằng sắt dùng để cắt, chặt, hái lượm, cày, cuốc (dao, rựa, liềm, lưỡi cày, lưỡi cuốc…) Thì ra nếu không có sự nhọc nhằn ngày đêm của bác thợ rèn thì bà, mẹ tôi, và cả những người dân lao động trong làng lấy đâu ra dụng cụ để lao động sản xuất? Nghĩ vậy mà tôi thầm cảm ơn bác thợ rèn. Nhưng sao mẹ lại không cho mình đến đây chơi nhỉ? “Nguy hiểm” mãi về sau tôi mới hiểu được lò rèn là nơi có lửa dễ bị bỏng, búa đập chan chát liên tục, ồn ào “nguy hiểm” trẻ con không được vào là đâu có sai!. Tôi càng hiểu thêm nghề rèn không chỉ nhọc nhằn vất vả mà còn có cả sự hiểm nguy nữa!.
Cái nghề rèn này, tôi không biết bắt nguồn từ đâu, có tự bao giờ mà ở Pháp (đất nước văn minh sớm) thế kỷ XIX, Mô-pa-xăng vẫn nhắc đến nghề thợ rèn trong nhân vật bác Phi-lip: “nắm lưỡi búa nện xuống đe cùng một nhát đập…”
Trong miên man suy nghĩ, tôi nói với học trò nhỏ rằng: nghề thợ rèn là một nghề thủ công vất vả nhiều nhưng nếu không có sự nhọc nhằn của những “bác Phi-lip thợ rèn” thì người dân sẽ không có công cụ lao động sản xuất phải không các em?!

Và tôi lại nghĩ, chúng ta đã bước sang thế kỷ XXI rồi, không biết bây giờ, nơi đâu ở những làng quê trên đất nước mình còn có cái lò rèn thủ công này nữa nhỉ!? Hãy mách cho tôi được một lần đến đó để hồi tưởng, tri ân một ngành nghề mà ông cha ta đã một thời gắn bó nhọc nhằn để duy trì phát triển cho sự sống hôm nay.

Tản mạn về "cái nận"

Nguyễn Thị Pháp

Cái nận” là cái tên mà người vùng quê làng gốm âu yếm đặt cho tôi! Tên tôi có lẽ được mô phỏng từ dáng hình và công việc tôi làm để phục vụ con người. Trước hết tôi xin có đôi lời về nguồn gốc ra đời của tôi. Rất đơn giản, cái nận tôi ra đời từ lòng đất mẹ. Thoạt đầu tôi chỉ là một cục đất sét nằm sâu trong lòng đất mẹ, người làm đồ gốm mang đất sét về nhồi thật nhuyễn rồi đem chuốc thành  hình trụ có chiều cao khoảng 25 – 30cm, đường kính độ 18 – 20cm, mặt đáy bịt kín , sau đó đem phơi khô rồi đem vào lò nung chín đỏ. Quá trình ra đời của một chiếc nận tôi cũng trải qua nhiều công đoạn: từ nhào nặn, phơi khô đến nung đỏ thì quả là truân chuyên. Biết được con người lắm vất vả để có được “nận tôi”, nên từ khi ra lò cái nận bắt tay ngay vào công việc trường chinh vạn dặm.
Thoạt tiên, cái nận tôi theo đôi gánh của bà, của mẹ ra chợ. Đến chợ, người vất tôi nằm lăn lóc, tắm mưa gội nắng giữa chợ để chờ ngày đẹp trời được theo chân ai đó về nhà họ mà làm cái “thiên chức” người cần. Nằm lăn lóc giữa chợ, anh em nhà họ nận tôi ngẫm nghĩ: mình chẳng khác gì các cô gái đẹp tuổi xuân thì phơi phới mà không biết số phận mai kia sẽ về đâu… Bất giác nận tôi ngâm nga:
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Rồi một ngày, từng anh em trong đống nận tôi cũng phải chia tay ở xóm chợ mà theo chân người về từng làng thôn, ngõ xóm xa xôi để giúp ích cho người. Một lần nữa nận tôi hồi hộp chờ đợi sự phân công của con người mà không hề có được một lời cho sự chọn lựa. Nận tôi lại cám cảnh:
Thân em như giếng giữa đàng
Kẻ thanh rửa mặt, người phàm rửa chân
Thật vậy, cùng một sự “ra lò” như nhau nhưng nận tôi có đứa thì được người tiêu dùng trọng vọng, nó được dùng để đựng nước giếng trong, nước mưa để uống, để rửa mặt… Chính vì thế, nận được đặt ở chỗ cao ráo, sạch sẽ, lại còn được con người lau rửa, kỳ cọ hằng ngày nên da cái nận lúc nào cũng sạch trơn, đỏ au, xinh đẹp như lúc mới ra lò. Ôi thật là diễm phúc !
Có bạn nận khác thì rơi vào tay cậu bé, cậu bé sử dụng nận để đựng nước sông chơi cá con, cá cảnh… Chú bé bỏ cá đầy lòng nận, các chú cá tha hồ bơi lội ngày đêm, cựa quậy trong lòng nận khiến có lúc cũng vui mà đôi lúc cũng bực mình vì “mất ăn, mất ngủ”. Rồi một ngày nọ, cậu bé chán chơi cá, bỏ quên nận tôi ở sau hè, cá chết, rêu phủ đầy, nận tôi xuống cấp thảm hại.
Còn đây là tâm sự của một bạn nận khác nữa. Bạn được về với gia đình nọ nhưng ngày ngày phải nằm sâu dưới gầm giường, nghe cụ già trở mình rên rỉ, rồi phải gồng mình đón nhận “bài tiết” của cụ. Ôi thôi đoạn trường sao kể xiết! Bù lại nận có niềm vui khi mỗi sáng mỗi chiều, nận được cậu bé hiếu thảo  vào thăm ông rồi mang nận đi đổ, lau chùi. Bàn tay bé xinh xinh vuốt ve lau chùi thân tôi cẩn thận, nhẹ nhàng khiến tôi đỡ tủi lòng. Phải chăng cậu bé “tri ân” tôi vì đã giúp ông mình ? Tôi thầm nói với cậu bé rằng: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ giành phần ai!” Cũng như cậu bé đấy thôi! Ông cậu có rất nhiều con cháu, nhưng sao cậu cứ là người ngày ngày đi làm công việc “lau chùi” cái nận này?! Phải chăng ngoài sự ý thức trách nhiệm, cậu còn có cả một “núi” tình yêu dành cho ông mình!
Chỉ là cái nận đến từ đất sét nung thôi nhưng sao tôi yêu biết bao cuộc sống này. Cái nận tôi tự hào được ra đời, bởi sự khéo léo của thợ gốm và sự sáng tạo năng động của con người khi sử dụng tôi. Đặc biệt, nận tôi cũng biết “thiên biến vạn hóa” trong phục vụ con người và con người cũng biết tận dụng cái nận tôi trong đời sống, “lành làm thúng, lủng làm mê, xề hốt rác” vậy đấy. Dẫu bây giờ công nghệ phát triển chóng mặt, con người dùng nhiều đồ thiếc, nhôm, nhựa … đồ gốm như cái nận tôi “lỗi thời”, con người dần xa. Nhưng tôi chắc chắn rằng cái nận tôi đã có một thời làm hài lòng người sử dụng bởi sự chất phác, dung dị, sạch sẽ, tiện ích..

Bây giờ có ai còn chợt nhớ đến chiếc nận này chăng? May thay vẫn còn đó những chiếc nận vượt thời gian, vượt tất cả để còn nằm đâu đó trong xó bếp, đầu hè, hay lăn lóc trong đống đồ gốm cũ, hay nằm lặng sâu dưới đáy sông làm chỗ trú ẩn an toàn cho lũ cua càng … lặng lẽ nghe thời gian trôi đi rồi tiếc nhớ một thời vang bóng.

Tổng quan về bia hậu ở Quảng Nam - Đà Nẵng

Đinh Thị Toan

Bia được dịch từ chữ Hán , âm Hán Việt là “bi”. Theo như lịch sử cho biết thì bia xuất hiện từ thời Tây Chu ở Trung Quốc, nhưng ban đầu chỉ mang ý nghĩa là cột đo bóng mặt trời, hoặc là cột đá để buộc vật tế sinh, về sau mới có lệ khắc bài văn lên mặt bia. Ở Việt Nam, không rõ bia xuất hiện từ thời nào, nhưng trải qua các triều đại phong kiến, nó trở thành một nét văn hóa trong đời sống sinh hoạt của nhân dân. Bia được dựng nhiều nơi như đình, chùa, đền, miếu, từ đường, nhà thờ tiền hiền, văn từ, văn chỉ, lăng, mộ…, thậm chí là ở chợ, cầu, bên cạnh đê, đập, sông, suối. Tùy vào nội dung văn bia mà địa điểm dựng được lựa chọn khác nhau. Ví như bia nói đến việc trùng tu chùa thì được dựng trong sân chùa, bia nói đến việc xây dựng lăng/mộ thì được dựng trước/trong lăng/mộ; hay như văn bia khắc việc tuyên dương người tốt việc tốt trong làng xóm thường được dựng ở đình làng, nơi được coi là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng làng xã…v.v. Có một loại bia mà tùy theo yêu cầu của cá nhân hoặc cộng đồng sẽ được dựng ở địa điểm nhất định. Đó là bia hậu. Vậy bia hậu được hiểu như thế nào?


1. Bia hậu và nội hàm khái niệm
Bia hậu mặc dù chiếm số lượng đáng kể trong khối lượng văn bia Hán Nôm Việt Nam, nhưng các công trình nghiên cứu về nó không nhiều. Các nhà học thuật cũng chưa có ý kiến thống nhất về nội hàm khái niệm của loại bia này. Có hai quan điểm: Một cho là bia hậu để chỉ loại bia mà nội dung nhắc đến việc bầu/lập/mua hậu Thần/Phật1. Quan điểm thứ hai cho rằng, bia hậu là để chỉ chung loại bia hậu Thần/Phật và bia gửi giỗ.
Phạm Thị Thùy Vinh trong bài viết “Lệ bầu hậu của người Việt qua tư liệu văn bia” khi giới thiệu một tấm bia gửi giỗ niên đại Hồng Đức thứ 10 (1479) đã bác bỏ rằng đây không phải bia hậu vì không có chữ hậu và không có những quy định của làng xã phải cúng tế họ như thế nào2. Trần Kim Anh, Dương Thị The, Phạm Thị Thoa trong những bài viết khác nhau cũng cho rằng bia hậu là định danh để chỉ loại bia khắc việc lập/bầu/mua hậu Thần/Phật3. Tác giả Trần Kim Anh khẳng định xét kỹ nội dung văn bia, có thể thấy hình thức gửi giỗ và hình thức lập hậu khác biệt nhau ở chỗ, thân chủ gửi tiền hoặc ruộng để nhà chùa sử dụng số tiền của đó làm giỗ lâu dài cho thân nhân họ, hoặc chính bản thân họ sau khi qua đời, chứ không đóng góp tiền của để làm công đức, họ không được tôn bầu là Hậu và chỉ được nhà chùa theo đúng ngày giỗ làm giỗ cho chứ không được hưởng các quyền lợi khác như Hậu, do đó loại bia này không thể được coi là bia hậu.
Thế nhưng trong dân gian, bia hậu được hiểu theo một cách khác có tính phổ biến hơn, nó là định danh để chỉ bao hàm những bia hậu Thần/Phật và cả loại bia gửi giỗ. Giáo sư Hà Văn Tấn trong “Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam” đã có đoạn diễn giải về tập tục gửi giỗ vào chùa như thế này: Một hình thức thờ tự khác gắn với các chùa Việt Nam là “thờ hậu”. Hình thức này có mối liên hệ với tập tục thờ cúng tổ tiên đã hình thành lâu đời ở người Việt Nam. Con cháu phải thờ cúng tổ tiên, và những người chết phải được con cháu đang sống thờ cúng. Thật đau khổ và bất hạnh cho những ai không có con cháu để thờ cúng mình sau khi chết. Vì thế, nhiều người không có con muốn được thờ cúng sau khi chết, đã tìm đến nhà chùa. Họ đóng góp cho chùa một số tiền hay ruộng đất và xin nhà chùa cúng lễ họ sau khi chết. Sự thờ cúng đó gọi là thờ “hậu” (hậu – có nghĩa là sau, tức thờ cúng sau khi chết, thay cho những người hậu tự, tức con cháu nối dõi). Ruộng đất của những người này cúng vào chùa được gọi là ruộng “hậu”. Trong nhiều chùa, có bàn thờ “hậu” – thường là một hành lang với những bát hương, đặt trước những tấm bia đá, gọi là bia “hậu”, trên đó khắc rõ tên tuổi, quê quán của những người, thường là cả vợ và chồng, cùng với số tiền hoặc ruộng họ đóng vào chùa và yêu cầu được thờ ở chùa. Những bài văn bia này mang tính chất những bản “hợp đồng”. Có nhiều chùa có rất nhiều bia hậu1.
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh cũng đề cập đến tục này trong công trình khoa học của mình: …còn có một thực tế là khá nhiều gia đình, hoặc chỉ đẻ toàn con gái, hoặc không có con. Đây là chuyện thuộc quy luật tự nhiên, con người không can thiệp được. Nếu những người con gái không giải quyết được vấn đề thờ tự, thì người ta có hai cách xử lý: một là nuôi con nuôi để có người nhang khói về sau (trong xã hội xưa nay, đã có nhiều nghĩa cử rất tốt về vấn đề này); hai là, người ta có phong tục gửi hậu, tức là: ông bà nào không có con, có thể xin làm một việc công ích nào đó cho làng hoặc gửi tiền hoặc gửi ruộng và làng sẽ có nhiệm vụ thờ cúng người đã khuất. Như vậy vẫn đảm bảo “ngọn khói chân nhang”. Như thế là không tuyệt tự2. Tập tục thờ hậu và bia hậu mà hai nhà nghiên cứu trên nhắc đến chính là hình thức gửi giỗ, đi kèm với nó là bia gửi giỗ. Chúng tôi cho rằng, bia gửi giỗ cũng là một hình thức của bia hậu, tất nhiên giữa nó với bia hậu Thần/Phật có những điểm tương đồng và dị biệt.
Bia hậu Thần/Phật thường có bố cục chung trước tiên là tên làng xã ở thời điểm dựng bia, sau đến họ tên, quê quán, công trạng của vị hậu, tiếp đến là những quy ước của làng với vị hậu, phần cuối là ngày tháng năm dựng bia; phía góc trái ghi họ tên người soạn, người viết, người khắc3. Tuy nhiên, thực tế có những bia chỉ ghi thông tin họ tên người được bầu hậu Thần/Phật mà thôi, ví dụ bia hậu Phật xã Lỗ Giao, tổng Cổ Lũy, huyện Đông Anh, tỉnh Phước Yên1; hoặc bia có nhiều mặt thì mặt trước trình bày theo công thức chung trên, còn mặt sau thông tin lại về danh tính vị hậu, như bia hậu thôn Nha Cưu, xã Lương Quán, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn2, bia hậu Phật thôn Cự Lộng, xã Lạc Đạo, tổng Lạc Đạo, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương[1]. Trong khi đó, bia gửi giỗ không có phần nêu công trạng của vị hậu cũng như cam kết cụ thể, rõ ràng về vấn đề kị giỗ, chỉ cho biết họ tên, ngày chánh kị (ngày giỗ chính thức). Nhiều bia thậm chí không thông tin cụ thể về ngày chánh kị.
Thứ nữa, ở văn bia hậu Thần/Phật, phần cam kết có thể được thực hiện khi họ còn sống. Tác giả Trần Kim Anh sau khi có sự tham cứu một số lượng lớn thác bản loại văn bia hậu này đã thấy rằng Nếu họ [tức vị hậu Thần/Phật – ĐTT] còn sống, mỗi khi làng có cúng tế, họ hoặc những người thân (tùy theo sự thỏa thuận và đồng ý của làng) sẽ được nhận phần biếu của làng theo quy định3. Điều này khác với văn bia gửi giỗ, việc cúng tế thờ tự chỉ được thực hiện khi người ấy đã mất đi.
Về địa điểm dựng bia hậu, bia hậu Thần/Phật được dựng ở đình, đền, chùa, miếu… Bia gửi giỗ cũng như thế, nhưng có điều, ngoài những cơ sở tín ngưỡng trên, bia gửi giỗ còn có mặt ở nhà thờ tộc, trong khi đó, bia hậu Thần/Phật không xuất hiện ở đây.
Dù khác biệt nhau ở vài điểm như chúng tôi đã nêu trên, nhưng suy cho cùng, mục đích cuối cùng của bia hậu Thần/Phật và bia gửi giỗ là ở chỗ bảo đảm việc thờ tự hương khói chẳng dứt, nói theo chữ nghĩa dân gian là “có hậu”. Cho nên, theo quan điểm cá nhân, chúng tôi cho rằng, bia gửi giỗ dù không xuất hiện từ “hậu” và không có cam kết thờ tự giữa nơi thờ và đối tượng được thờ, vẫn là một hình thức của bia hậu, bên cạnh bia hậu Thần/Phật.
2. Bia hậu ở Quảng Nam – Đà Nẵng
Theo thống kê của Nguyễn Ngọc Quỳnh về bia hậu thế kỉ XVII – XVIII ở một số địa phương miền Bắc4 thì bia hậu tập trung ở các tỉnh như Bắc Ninh (80 bia), Hải Dương (50 bia), Hà Đông (46 bia), Bắc Giang (30 bia), Hưng Yên (30 bia), Kiến An (24 bia) … Qua đây thấy được, tục lập bia hậu ở miền Bắc khá phổ biến.
Ở Quảng Nam – Đà Nẵng, bia hậu xuất hiện không nhiều. Về bia hậu Thần/Phật, hiện mới chỉ thấy có một bia hậu Thần dựng năm Minh Mệnh thứ 9 (1828). Nội dung văn bia cho biết, người dân châu Hà Trừng lập con ông này là Nguyễn Văn Thảo, tước Hiếu Tài hầu, vốn là một thái giám, cùng cha ông này là Nguyễn Văn Chất, tước Suất Thường hầu làm hậu Thần. Ông Nguyễn Văn Thảo tự xuất của cải, đất đai giao cho bổn châu chi dụng canh tác để cúng tế, phụng sự việc kị lạp hai cha con ông1.
Ngoài ra, chúng tôi cũng lưu ý đến một bia khác có niên đại năm Ất Mùi niên hiệu Thành Thái thứ 7 (1895). Đây là bia xã Thắng Lộc, tổng An Lễ Thượng, huyện Duy Xuyên, nội dung nói về việc xã này từ xưa những người hào phú hiếu nghĩa, lạc quyên tài vật nhưng chưa từng được lưu danh hậu thế, nay ông hương thân họ Phan hiếu nghĩa, lạc quyên 2 mẫu 5 sào 7 thước 5 tấc tư điền, trị giá 235 quan tiền cho binh dân bổn xã chi dụng. Để cổ vũ tinh thần hiếu nghĩa của hậu thế, xã này nhất trí phối thờ bài vị ông này ở ban thờ hậu hiền sau khi ông mất2. Tuy không có cam kết rõ ràng như những bia hậu hiền khác ở miền Bắc, nhưng ở đây có thể thấy hơi hướng của một bia hậu hiền. Và đây là trường hợp chưa thấy ở một làng xã nào ở Quảng Nam – Đà Nẵng.
Riêng về bia gửi giỗ, hiện chúng tôi chưa có số liệu thống kê chính xác, nhưng con số đoán định không vượt quá 10 bia. Nguyễn Hoàng Thân trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu văn bia Hán Nôm tỉnh Quảng Nam” ở tiểu mục “Văn bia Hậu và tục bầu Hậu ở Quảng Nam – Đà Nẵng”3 có đưa ra con số “252 đơn vị văn bia có nội dung bàn đến vấn đề này”, nhưng theo chúng tôi, tác giả đã có sự lầm lẫn khá lớn khi đưa vào đây những bia liên quan đến tiền hiền, hậu hiền. Đành rằng ở phần chú thích, tác giả có nói hai chữ hậu hiền ở đây “khác với Hậu hiền gắn với việc thờ tự ở văn từ, văn chỉ của miền Bắc”4, nhưng nếu thế thì không thể đưa vào phần văn bia hậu được. Vì rõ ràng, bia hậu hiền với tư cách là bia hậu dùng để chỉ những bia có nội dung nói đến việc mua/lập/bầu người nào đó vào vị trí đứng sau các bậc hiền tài (trong cách hiểu của người miền Bắc) hoặc các bậc tiên hiền (trong cách hiểu của người miền Trung, bao gồm các vị tiền hiền và hậu hiền, những người có công quy dân lập ấp, phát triển, mở mang làng xóm).
Ở thành phố Đà Nẵng, hiện chúng tôi mới chỉ phát hiện thấy có một tấm bia gửi giỗ, hiện tọa lạc tại chùa Tam Thai (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn) ở vị trí trên cổng tam quan, nơi ít người để ý thấy. Bia có kích thước cao 52 cm, rộng 38 cm, dày 12 cm, hình chữ nhật đứng, vát góc hai bên trán, không có hoa văn trang trí và chỉ khắc một mặt. Văn bia cho biết: Đệ tử Lại Thị Khuê, pháp danh Chơn Quế ở xứ Bà Bồi, châu Nhân Bồi, tổng Mỹ Khê, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn phụng cúng tạo bia đặt việc tế tự tại chùa Tam Thai, giao 200 quan tiền mỗi năm kị tế vào hai kì xuân thu. Ngày 19 tháng 2 kị xuân, ngày mồng 6 tháng 8 kị thu (…) Ngày tháng 4 năm Kỷ Mùi, Hà Thị Tăng cúng 60 quan tiền, tổng cộng trước sau 260 quan, mua 1 sào 5 thước ruộng tại xứ cát trắng xã Quán Khái đặt làm ruộng tế tự tổ tiên. Những người được gửi giỗ bao gồm ông bà nội, cha mẹ, chú ruột, cô ruột, chị em ruột, con trai ruột và con nuôi của bà Lại Thị Khuê. Bia dựng năm Giáp Ngọ niên hiệu Thành Thái thứ 6 (1894). Qua văn bia này có thể thấy, gia đình họ Lại không có con trai lo liệu hương hỏa, những người con gái khác cũng đã mất, nên người còn lại là bà Khuê phải gửi giỗ vào chùa để khói nhang cho tiên linh nhà họ Lại.
Cũng là bia gửi giỗ riêng biệt của một gia đình, một tấm bia gửi giỗ hiện còn lưu tại chùa Chúc Thánh (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam) ghi chép lại việc đặt tự tiên linh nhà họ Hà, có niên đại năm Tân Sửu (1961). Văn bia có nói rõ, gia đình này nguyên quán tại hương Thượng Kỳ, huyện Nam Hải, phủ Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, nước Trung Hoa, nay sống tại phố Hội An. Ông Hà Nguyên Cầu và bà Lâm Thị Thanh Lâm sinh được một người con trai nhưng qua đời sớm, nên không có người nối dõi tông đường. Sau khi chồng và con trai mất, bà Lâm quy y vào phổ Liên Hoa, luôn nhớ đến tiên linh nên định gửi giỗ vào chùa, nhưng chưa kịp thực hiện mong muốn đó thì mất1. Con gái bà nối tiếp ý nguyện của mẹ, trí cúng ruộng đất, tiền bạc kị giỗ song thân và anh ruột. Đồng thời nguyện lập một sở phương trượng tây đường, lại dựng một khám thờ tiên linh nhà họ Hà và họ Lâm ở gian giữa để việc cúng tế thuận tiện. Ngoài việc cúng tế, hằng năm nhà chùa phải quét dọn mộ tháp của những vị này, mãi không được thay đổi1.
Tại chùa Chúc Thánh còn một tấm bia gửi giỗ khác chưa rõ niên đại chính xác, nhưng chắc chắn là dựng trước năm Tân Sửu 1961, bởi trong số những người gửi giỗ có tên bà Lâm Thị Thanh Lâm, gửi giỗ 50 đồng bạc cho chồng, kị vào ngày 18 tháng 11 hằng năm, tức là lúc này bà còn sống. Trong khi đó, con gái bà Hà Thị Tú lập bia gửi giỗ khác (tức là tấm bia chúng tôi mới nói ở trên) kị cha Hà Nguyên Cầu vào ngày 19 tháng 9, mẹ Lâm Thị Thanh Lâm ngày 15 tháng 2, anh ruột Hà Nãi Đường ngày 19 tháng 7, ngoài ra tế chung những người trên vào hai kì xuân thu ngày 15 tháng 2 và ngày 15 tháng 8 hằng năm. Điều đặc biệt của bia này là không khắc ghi riêng việc gửi giỗ của một gia đình, mà khắc chung nhiều người thuộc những gia đình khác nhau (với số lượng khoảng 36 nhà). Hơn nữa, mối quan hệ giữa người gửi giỗ và người được gửi giỗ cũng rất đa dạng, không giới hạn trong quan hệ thân thích ruột thịt mà còn mở rộng sang quan hệ bằng hữu. Ngay trong mối quan hệ ruột thịt cũng chia làm nhiều trường hợp khác nhau như gửi giỗ cho ông bà nội, ông bà ngoại, cha mẹ ruột (cha mẹ chồng/cha mẹ vợ), vợ/chồng, anh chị em ruột (có thể có thêm chị/em dâu), bác ruột, chú ruột, cô ruột, con ruột.  Hiện vật gửi cúng bao gồm ruộng đất, tiền bạc và đồ tự khí, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là gửi tiền bạc. Ngoài việc kị vào ngày chính thức, nhiều nhà còn gửi tài vật để tảo mộ, dựng khám thờ, siêu hồn, cúng tế vào các kì xuân thu. Mỗi người gửi giỗ tùy theo tình hình tài chính và đặc biệt là số lượng người cần tế giỗ mà gửi số tài vật khác nhau. Ví dụ: Hà thị, người làng Minh Hương, pháp danh Đồng Tâm đặt 1000 đồng bạc siêu hồn tiên linh, kị vào hai kỳ xuân thu ngày 11 tháng 2 và 15 tháng 8 (….) Diệp Ngọc Thi ở làng Hà My đặt 80 đồng bạc kị ông ngoại Trần Ngọc Xương vào ngày 15 tháng 5, kị bà ngoại Vương Thị Hoà vào ngày 15 tháng 8, kị cha vợ Lâm Văn Kỳ vào ngày 18 tháng 2, kị mẹ vợ Nguyễn Thị Nghĩa vào ngày mồng 2 tháng 12 (…) Nguyễn Thị Ngọ pháp danh Như Trung ở xã Hà My đặt 200 đồng bạc vào ngày 16 tháng 2 hằng năm kị mẹ ruột Nguyễn Thị Toái…2.
Ở Quảng Nam, ngoài hai bia gửi giỗ ở chùa tổ đình Chúc Thánh, còn có một tấm bia khác liên quan đến việc cúng tế tiên linh có niên đại sớm hơn, tạo khắc dưới thời Minh Mệnh năm thứ 14 (1833). Nội dung văn bia không cho biết ngày giỗ của những người được trí cúng mà chỉ liệt kê là bà Lương Thị Việt, người châu Đông Hoa Đông, tổng Đại An Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn trí cúng: Một ngôi nhà 3 gian 2 chái để tế tự tiền hiền họ Lương. Năm sào đất tại xứ Đồng Ninh Ghềnh Dồng, châu Phương Trạch Đông, tổng Phú Mỹ, huyện Duy Xuyên dùng vào việc thờ tự người chồng đã mất là Hương lão Võ Văn Quý. Năm sào đất tại xứ Đồng Ninh Ghềnh Dồng, châu Phương Trạch Đông, tổng Phú Mỹ, huyện Duy Xuyên dùng vào việc thờ tự con trai là tiền Hương chức Võ Văn Hóa. Sáu sào đất tại xứ Mục Giác (!), thuộc địa phận bổn châu dùng vào việc tảo mộ. Lưu lại bốn sào đất tại xứ Đá Bạc, thuộc địa phận bổn châu dùng vào việc tế tự người này [tức bà Lương Thị Việt]. Cuối văn bia có đoạn: vậy nên cầu xin bổn châu nội phủ giám trưng thành tích để việc khói hương được lưu giữ vạn đời1.
Bia gửi giỗ có niên đại sớm nhất ở Quảng Nam – Đà Nẵng phải kể đến tấm bia có kí hiệu 20400 được giới thiệu trong Tổng tập thác bản Văn khắc Hán Nôm Việt Nam2. Bia được khắc một mặt, cao khoảng 88,7 cm, rộng 33,3 cm. Phần đế bia có chiều cao 20 cm, rộng 34,6 cm. Dòng lạc khoản chỉ ghi năm theo can chi là Quý Hợi mà không cho biết niên hiệu vua/chúa, nhưng dựa vào phong cách trang trí hoa văn trên bia có thể đoán định, bia này được tạo lập cuối thời chúa Nguyễn. Cụ thể, trán bia trang trí hình hai con rồng cách điệu uốn cong người chầu vào búp sen ở giữa, hai đuôi ngoắc ngược lên trên đầu búp sen. Diềm bia chạy đường gờ, không có hoa văn. Đế bia chia thành hai phần, phần trên trang trí hình hoa sen nở, xung quanh là hình dây lá cách điệu, phần dưới tạo đường lượn hình cánh bướm. Chữ khắc trên bia nét mảnh, mặt bia lại bị mòn nhiều chỗ nên một số chữ bị mờ, không nhận diện được. Tuy nhiên, những thông tin chính yếu lưu lại khá rõ, giúp chúng ta xác định đây là bia gửi giỗ. Theo đó, bà Lương Thị Đáng, người châu Đông 0 Trung, tổng Phú Mỹ, thuộc Hoa Châu, phủ Thăng Hoa do tuổi cao sức yếu, lại góa bụa đơn thân, không có người lo hậu tự nên cúng 2 mẫu 1 sào đất trồng dâu cũ và 60 quan tiền cho bổn châu để lo việc cúng kị sau này của mình và chồng là Lê Văn Chánh. Ngoài ra, bà còn giao bổn tộc 4 sào ruộng đất để kị cha và 3 sào 7 thước 5 tấc ruộng đất để kị mẹ hằng năm.
Ngoài 5 bia gửi giỗ đã nói ở trên, chúng tôi chưa tìm thấy thêm một bia nào có liên quan đến việc gửi hậu. Qua những bia hậu chúng tôi đã trình bày, có thể rút ra vài nhận xét như sau:
Một là, với số lượng 7 văn bia hậu trong tổng số hơn 300 bia Hán Nôm Quảng Nam – Đà Nẵng còn bảo lưu tại địa phương và được giới thiệu trong Tổng tập thác bản Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, có thể nói tục mua/bầu/lập/gửi hậu cũng như bia hậu ở xứ Quảng không thịnh hành như ở miền Bắc.
Thứ hai, về niên đại bia, 1/7 bia có niên đại thời chúa Nguyễn, 6/7 dựng thời vua Nguyễn. Trong khi đó, bia hậu ở miền Bắc xuất hiện nhiều vào thời Hậu Lê, Mạc, đến thời vua Nguyễn thì giảm dần. Điều này có thể lý giải được, bởi xứ Quảng Nam – Đà Nẵng vốn là vùng đất của Chăm pa. Dù thời Lê Thánh Tông chính thức thuộc về Đại Việt, nhưng miền biên viễn này luôn có nhiều biến động, văn hóa Việt không in đậm được dấu ấn trên vùng đất này. Mãi đến khi chúa Nguyễn Hoàng đặt chân đến cai nhậm thì di dân người Việt mới thực sự làm chủ và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của người Việt một cách mạnh mẽ trên cơ sở tiếp thu, dung hòa với nền văn hóa bản địa.
Thứ ba, về hình thức, bia hậu vùng Quảng Nam – Đà Nẵng khá đơn điệu. Thường là bia một mặt, không có tên (7/7 bia) và ít trang trí hoa văn (3/7 bia hoàn toàn không có hoa văn trang trí, 1/7 bia chỉ có mặt nguyệt trên trán bia, ngoài ra không trang trí gì thêm). Nếu có trang trí thì hoa văn đơn giản, ít cách điệu. Điều này khác hẳn với bia hậu ở miền Bắc: thường có từ hai mặt trở lên; đa phần đều có tên và được khắc bằng đại tự ngay phần trán, hoa văn trang trí cầu kì. Tuy nhiên, không chỉ bia hậu mà bia đá nói chung, ở các địa phương miền Bắc việc chạm khắc bia rất dụng công, không chỉ ở trán bia, thân bia mà còn ở cả phần đế, thay vì sử dụng những khối đá nguyên, người ta đã chạm khắc những hoa văn cách điệu chồng lớp lên nhau, hoặc tạo hình con rùa tạo cảm giác mềm mại, uyển chuyển.

Tài liệu tham khảo
            1. Vũ Ngọc Khánh (2007), Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
            2. Hà Văn Tấn (2005), Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
3. Nguyễn Hoàng Thân (2014), Nghiên cứu văn bia Hán Nôm tỉnh Quảng Nam, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Đinh Thị Toan, “Bia hậu Thần duy nhất ở Quảng Nam – Đà Nẵng”, Nghiên cứu lịch sử xứ Quảng, số 7 (01/2016), tr.84-87.
5. Đinh Thị Toan, “Tấm bia gửi giỗ ở tổ đình Chúc Thánh”, Văn hóa Phật giáo, số 250 (6/2016), tr.11-13.
6. Đinh Thị Toan, “Thêm một tấm bia gửi giỗ ở tổ đình Chúc Thánh”, Văn hóa Phật giáo, số 253 (7/2016), tr.14 – 17.
7. Đinh Khắc Thuân (1996), Văn bia thời Mạc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
8. Viện Cao học thực hành, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (2009), Tổng tập thác bản Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 21, Nxb Văn hóa Thông tin.
            9. Phạm Thùy Vinh, “Lệ bầu hậu của người Việt qua tư liệu văn bia”. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3 (359)/2006, tr.33.40.
10. Các trang web:
            http://www.daitangkinhvietnam.org/node/1745; ngày truy cập 21/8/2016.
            http://ngotoc.vn/Nghien-cuu-Trao-doi/Tim-hieu-ve-bia-hau-145.html; ngày truy cập 21/8/2016.



1 Ngoài bia hậu Thần, hậu Phật, còn có bia hậu hiền, hậu ngõ, hậu xóm, hậu giáp… nhưng để tiện, chúng tôi gọi tắt loại bia này là bia hậu Thần/Phật.
2 Trần Thị Thùy Vinh (2006), “Lệ bầu hầu của người Việt qua tư liệu văn bia”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 (359)/2006, tr.33.40.
1 Hà Văn Tấn (2005), Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb  Hội nhà văn, Hà Nội, tr.192-193.
2 Vũ Ngọc Khánh (2007), Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb Giáo dục. Hà Nội, tr.357-358.
1 Tất cả các địa danh nêu trong bài được giữ nguyên như trong văn bia đã đề cập. Viện Cao học thực hành, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (2009), Tổng tập thác bản Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, kí hiệu 20058, tập 21, tr 58.
2 Viện Cao học thực hành, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (2009), tlđd, tr.27-28.
[1] Viện Cao học thực hành, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (2009), tlđd, tr.173-174.
3 Trang web http://www.daitangkinhvietnam.org/node/1745, ngày truy cập 21/8/2016.
4 Thống kê này được thực hiện trên tổng số thác bản văn bia được in rập, giới thiệu trong Tổng tập thác bản Văn khắc Hán Nôm Việt Nam.
1 Xin xem thêm Đinh Thị Toan, Bia hậu Thần duy nhất ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Nghiên cứu lịch sử xứ Quảng, số 7 (01/2016), tr.84-87.
2 Viện Cao học thực hành, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (2009), tlđd, tr.407.
3 Nguyễn Hoàng Thân (2014), Nghiên cứu văn bia Hán Nôm tỉnh Quảng Nam, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.147.
4 Nguyễn Hoàng Thân (2014), tlđd, tr.148.
1 Văn bia nói bà chưa kịp thực hiện ý nguyện gửi giỗ tiên linh vào chùa thì mất, nhưng thực tế trước đó bà đã gửi giỗ cho chồng rồi.
1 Đinh Thị Toan, “Tấm bia gửi giỗ ở tổ đình Chúc Thánh”, Văn hóa Phật giáo, số 250 (6/2016), tr.11-13.
2 Đinh Thị Toan, “Thêm một tấm bia gửi giỗ ở tổ đình Chúc Thánh”, Văn hóa Phật giáo, số 253 (7/2016), tr.14 – 17.
1 Viện Cao học thực hành, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (2009), tlđd, tr.376.
2 Viện Cao học thực hành, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (2009), tlđd, tr.401.

Kho tri thức dân chúng, vài khái niệm

Hoàng Hương Việt


Di sản
            1.Di sản văn hoá dân tộc là tài sản vô giá của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta nói chung và ở mỗi địa phương, vùng miền, là một bộ phận di sản văn hoá nhân loại, hiểu theo nghĩa rộng. Nó không ngừng được thừa kế, phát triển và phát huy vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta qua hàng ngàn năm lịch sử. Có một nhà nghiên cứu đã nhận định: "Di sản văn hoá là trục định vị của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong đại dương của toàn cầu hoá về văn hoá". Nói rộng ra, bản sắc, cốt cách của từng con người, của từng dân tộc có được hôm nay là do kế thừa và phát huy giá trị di sản văn hoá tốt đẹp nhất được gìn giữ, lưu truyền bồi đắp từ thế hệ này qua thế hệ khác. Khi trở thành tinh hoa, tinh tuý, mang bản sắc dân tộc, thể hiện dưới nhiều hình thức, thể loại, thì sản phẩm văn hoá tự nó đã là tài sản quý báu của toàn nhân loại.
2
            Là loại hình văn hoá phi vật thể, văn hoá dân gian dân tộc là một bộ phận cấu thành nền văn hoá Việt Nam, được gọi là sản phẩm tinh thần có giá trị về lịch sử, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết, được nhân dân hun đúc, sáng tạo trong quá trình tiếp cận với đời sống xã hội, môi trường tự nhiên, thực tiễn lao động, chiến đấu, đấu tranh để sinh tồn và ý thức tư tưởng, bãn lĩnh dân tộc trong nguồn cội lịch sử. Những câu chuyện kể, những áng thơ văn, ca dao, dân ca, hò vè, tục ngữ, lễ hội, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, bí quyết ngành nghề thủ công... được lưu giữ bằng trí nhớ, bằng ngữ văn truyền miệng là một kho tàng "phi vật thể" vô giá mà nhân dân ta luôn nâng niu, khai thác và sử dụng nó vào mọi mặt đời sống xã hội, với tất cả tấm lòng trân trọng vốn quý tinh thần của cha ông ta để lại.
            Ngày nay có lẽ không ai còn xa lạ với thuật ngữ văn hoá dân gian (Folklore). Lần đầu tiên vào năm 1846, nhà khoa học người Anh, William J.Thoms, trong một bài viết đã dùng thuật ngữ này (Folk: là dân chúng, nhân dân. Lore: trí khôn, tri thức) - dùng để chỉ nền văn hoá vật chất (di tích, hiện vật), nhưng chủ yếu là để chỉ những giá trị văn hoá tinh thần của nhân dân lao động như phong tục, luật tục, đạo đức, việc cúng tế, lễ hội, những câu hò, điệu hát, những câu ca dao, tục ngữ, những truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, truyện cười, truyện trạng trong nhân gian.
            3
            Trong nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tài liệu và trên diễn đàn hội thảo, toạ đàm ở cấp quốc gia, khu vực, địa phương, các nhà nghiên cứu và hoạt động văn hoá đã từng bàn nhiều về khái niệm: bản sắc văn hoá dân tộc, bản lĩnh dân tộc, màu sắc dân tộc, sắc thái dân tộc, bản sắc dân tộc của văn hoá, bản sắc văn hoá của dân tộc, ... Mỗi khái niệm trên đều có hàm nghĩa riêng, nhưng lại có nét tương đồng, bản sắc dân tộc luôn luôn gắn liền với văn hoá và thường được biểu hiện thông qua văn hoá, Vậy chúng ta có thể coi bản sắc dân tộc là bản sắc văn hoá của dân tộc.
            Vậy bản sắc văn hoá của dân tộc là tổng thể những giá trị văn hoá bền vững, những tinh hoa văn hoá vật chất và tinh thần làm nên bản sắc riêng của mỗi dân tộc trong lịch sử và trong phát triển. Như vậy, bản sắc văn hoá dân tộc gồm giá trị văn hoá tinh thần (mặt cốt lõi bên trong) thể hiện cái nét riêng biệt, độc đáo dân tộc trong nghệ thuật, phong tục tập quán, trong đời sống, tư tưởng, tình cảm, trong đời sống sinh hoạt. Tóm lại, bản sắc bao gồm cả hệ giá trị tinh thần và nét đặc sắc riêng của văn hoá.
            Ở đây có thể dễ nhận thấy trong các loại hình, thể loại văn hoá dân gian truyền thống như vừa nêu trên, vừa có vị trí trong toàn bộ nền văn hoá Việt Nam "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" vừa có tác động trực tiếp đến ý thức tâm linh của cộng đồng dân tộc lâu bền.
            4
            Người dân xứ Quảng không ai không tự hào về mảnh đấy văn vật có truyền thống văn hoá tốt đẹp, nơi đã sản sinh ra biết bao anh hùng liệt sĩ, biết bao danh nhân tài cao học rộng, nghệ nhân, nghệ sĩ tài hoa và một cộng đồng nhân dân thuần hậu, sống trong truyền thống nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Một bài vè, một câu ca dao, một điệu hò khoan, một điệu lý trữ tình trên những ruộng lúa, nương dâu, hay ngân vang trên sông nước; những phong tục tập quán tốt đẹp của cha ông, những lễ hội tưng bừng nhiều màu sắc của ngày xưa, những đêm kể chuyện của già làng bên bếp lửa nhà sàn trong không khí huyền thoại..., đều khiến ta xúc động, đều khơi dậy trong ta lòng yêu quê hương thiết tha, và chính tình yêu đó sẽ là nguồn sức mạnh vô tận của chúng ta trong sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước hôm nay, nuôi dưỡng và khơi dậy niềm tự hào qua nhiều thế hệ.
            Khi nói đến vai trò văn hoá dân gian là nói đến những điều thật đơn giản như thế. Trải qua bao cuộc bể dâu, chiến tranh tàn phá, người già cả qua đời, Nhà nước chưa có điều kiện quan tâm nhiều đến việc chấn hưng văn hoá, văn nghệ dân gian, nhưng bất kỳ ở làng quê nào cũng vẫn còn những câu chuyện kể vẫn còn những người thầm lặng ghi chép, vần còn người hò hát, ngâm vịnh những vốn liếng ca dao, dân ca xưa, vẫn còn người, gia đình, tộc họ coi gia phả, hương ước, ngày giỗ kỵ, tế lễ và đình chùa, nhà thờ miếu mộ là phần cốt lõi của tâm linh, tinh thần miên viễn. Văn hoá, văn nghệ dân gian vẫn sống trong đời sống tinh thần của người dân, gần như máu thịt, khó phai nhạt, một khi nhắc đến một kỷ niệm, ký ức nào đó trong đời người.
            5
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các thế hệ người Việt Nam đã dành nhiều công sức, tâm huyết để giữ gìn những giá trị tài sản văn hoá của từng dân tộc, từng địa phương; đồng thời trong quá trình vận hành của văn hoá, có giao thoa, tiếp biến để bổ sung cho kho tàng văn hoá dân gian ngày thêm phong phú. Người ta thường nói: "Mất văn hoá là mất tất cả. Mất dân gian là mất hồn dân tộc". Cha ông ta đã thông minh sáng tạo, nhạy cảm giữ gìn và chuyển giao cho chúng ta di sản văn hoá dân gian được bồi đắp, thăng hoa, bất chấp mọi biến thiên, biến động lịch sử. Ngày nay, chúng ta với bản lĩnh văn hoá mới, có điều kiện kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới, tạo nên nền văn hoá dân tộc vốn có truyền thống, góp phần phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
6
Để văn hoá dân gian đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, không có con đường nào khác là phải chuyển mạnh nhận thức trong cộng đồng về giá trị của văn hoá  dân gian. Chúng ta có điều kiện thuận lợi để làm việc đó bằng nhiều hình thức như phương tiện thông tin đại chúng, thực hiện một kế sách sưu tầm, nghiên cứu nhất quán, khoa học, đồng bộ. Có kế hoạch bảo tồn di sản phi vật thể như phổ biến truyền dạy cho thế hệ trẻ về các loại hình văn hoá cổ truyền dưới dạng nguyên gốc, có chọn lọc, trong hệ thống trường  học, tổ chức đoàn thể, sinh hoạt gia đình, hoặc trong môi trường giao lưu, hội nhập ngày càng phát triển, là điều kiện để quảng bá, giới thiệu rộng rãi ra thế giới.
Vai trò văn hoá, văn nghệ dân gian trong viêc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc là một chủ trương lớn, cho thấy các hoạt động văn hoá, các giá trị tinh hoa văn hoá dân tộc chỉ phát huy phần lớn tác dụng, khi chúng trở thành tế bào sống trong nền văn hoá truyền thống đương đại của chúng ta.
Dân gian
Vài thuật ngữ, cố gắng Việt hoá, dịch nghĩa từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt cho dễ hiểu. Nhưng xung quanh một số thuật ngữ như Folk, lore, Folklore, Folk culture (dân chúng, trí thức, trí tuệ, dân gian, văn hoá dân gian) còn nhiều cách lý giải, cách hiểu. Trên cơ sở ý kiến của học giả đi trước, cộng với nghiên cứu tìm hiểu thêm, chúng tôi cung cấp và nêu lại mấy cách giải thích có hệ thống sau đây1:
1.Văn hoá dân gian
Thuật ngữ văn hoá dân gian ở Việt Nam  được khởi xướng và sử dụng nó tương đương với thuật ngữ quốc tế folklore từ những năm dầu thập kỷ 80 2.
            Còn từ folklore do nhà nghiên cứu văn hoá người Anh là Ambrose Merton (còn gọi là William Jonh Thoms) sử dụng lần đầu tiên vào năm 1846, vốn được xây dựng trên cơ sở kết hợp 2 từ xa-xông (Saxon - một bộ tộc ở nước Anh thời trung cổ) là FolkLore. Folk nghĩa là dân chúng, lore nghĩa là trí thức, trí tuệ. Vậy folklore theo nghĩa từ nguyên là kho tri thức của dân chúng. Nhưng về sau, từ folklore không còn hạn chế theo nghĩa từ nguyên như vậy nữa, mà nó đã được các học giả trên thế giới đưa ra hàng chục giới thuyết khác nhau.
            Thực ra, nếu thuật ngữ quốc tế tương ứng với từ văn hóa dân gian thì phải là từ folk culture. Folk culture thường được hiểu là toàn bộ nền văn hoá vật chất và  văn hoá tinh thần của dân chúng. Còn folklore dầu được hiểu theo cách nào thì phạm vi ngữ nghĩa của nó cũng có phần hẹp hơn folk culture. Có cách hiểu folk-lore chỉ là văn hoá tinh thần của quần chúng. Có cách hiểu hẹp hơn nữa, chỉ coi folklore là văn nghệ dân gian, thậm chí chỉ là ngữ văn dân gian. Khi hiểu folklore là văn hoá dân gian tức là theo nghĩa hẹp của từ này, thì cũng đồng nghĩa với từ folk culture tức văn hoá dân gian theo nghĩa rộng được tiếp cận từ giác độ thẩm mĩ. Hoặc nói cách khác, tất cả những gì trong trong folk culture, tức văn hoá dân gian theo nghĩa rộng mà có liên quan với cảm xúc thẩm mĩ thì đều có thể coi là những hiện tượng thuộc phạm vi folklore. Sở dĩ Giáo sư Đinh Gia Khánh cho rằng folklore là folk culture, được tiếp cận dưới giác độ thẩm mĩ, chính là vì ông quan niệm rằng folklore cái phần, có tính chất thẩm mĩ của folk culture, rằng folklore là một nghệ thuật.
              Như vậy, thuật ngữ văn hoá dân gian theo quan niệm tương đối là tương ứng với cả hai thuật ngữ quốc tế folk culturefolklore, với ý nghĩa rộng hẹp khác nhau. Ở dây, điều đáng băn khoăn ở chỗ, sự chuyển dịch từ thuật ngữ quốc tế folklore sang thuật ngữ văn hoá dân gian đã thực sự phù hợp hay chưa mà thôi.
Còn cái gọi văn hoá dân gian thì không chỉ là khái niệm trừu tượng, mà hiển nhiên nó vẫn là một thực tế văn hoá đã tồn tại hàng ngàn năm trong lịch sử dân tộc. Trong tác phẩm "Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam", tác giả Trường Chinh đã viết: "Bên cạnh văn hoá chính thống của thời đại, có cả một nền văn hoá nhân dân còn lưu lại trong phương ngôn, ngạn ngữ, ca dao, truyện cổ tích, tranh gà lợn, v..v. Văn hoá này tả sự phấn đấu của người lao động (làm ruộng, làm thợ, đi buôn, v.v...). Lòng mơ ước của nhân dân trong tương lai tươi sáng, hay là chí phản kháng của họ đối với bọn quyền quý; chế giễu hủ tục, mê tín dị đoan hoặc khuyên răn làm điều thiện, tránh điều ác. Đó là một kho tàng rất phong phú mà các nhà văn học, sử học, khảo cổ học nước ta còn phải dày công tìm tòi, nghiên cứu mới tìm hiểu hết được"1. Nền văn hoá được tác giả nêu lên ở đây chính là nền văn hoá dân gian (folk culture). Đó là bộ phận văn hoá do nhân dân lao động các thời đại sáng tạo nên, nó cũng tồn tại song song với bộ phận văn hoá chính thống, văn hoá bác học (Learned culture) là sản phẩm của tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ có học vấn.
            Điều khác biệt cơ bản giữa văn hoá dân gian văn hoá bác học là ở chỗ, trong khi văn hoá bác học đã phân hoá thành các bộ môn độc lập thì văn hóa dân gian vẫn tồn tại như một tổng thể nguyên hợp (Ensemble syncrétique). Phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, tri thức dân gian, văn hoá nghệ thuật dân gian tất cả các thành tố đó đều gắn bó hữu cơ với nhau trong các hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng của nhân dân. Tất nhiên, nói như vậy chỉ cốt nhằm nhấn mạnh tới một đặc trưng cơ bản của văn hoá dân gian, chứ không có nghĩa là tuyệt đối hoá tính nguyên hợp của nó. Mặc dù chưa có sự phân hoá rõ rệt và triệt để giữa các bộ phận, các thành tố của văn hoá dân gian, song trong quá trình phát triển lịch sử, do nhu cầu của đời sống văn hoá - xã hội, một bộ phận, hành tố nhất định như mĩ nghệ dân gian, ngữ văn dân gian, v.v... cũng dần dần được phân hoá thành những bộ phận độc lập tương đối trong văn hoá dân gian.
            Trong hơn một thập kỷ qua, thuật ngữ văn hoá dân gian dần dần trở nên quen thuộc trong giới khoa học và công chúng Việt Nam.
            Trải qua trường kỳ lịch sử, văn hoá dân gian Việt Nam những hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mĩ cao và đậm đà bản sắc dân tộc, trong các tác phẩm của các thành tố như nghệ thuật tạo hình dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian, nghệ thuật ngữ văn dân gian, cùng với lối ứng xử đôn hậu, thuần phác, đầy nghĩa tình, với những thuần phong mĩ tục trong các sinh hoạt văn hoá dân gian, lễ hội dân gian... đã góp phần rất lớn vào việc hun đúc những truyền thống tích cực trong phẩm chất con người Việt Nam. Mặc dù hiện nay xã hội đã phát triển cao theo hướng hiện đại hoá, song kho tàng văn học dân gian  phong phú đa dạng cùng với tinh hoa của nó vẫn luôn luôn là một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới, con người vừa hiện đại vừa dân tộc. Điều đáng chú ý ở đây là không chỉ có văn hoá dân gian truyền thống còn phát huy tác dụng, mà ngay cả một số thành tố nhất định của nó như truyện cười, ca dao, tục ngữ mới... cũng vẫn tiếp tục sinh thành và phát triển trong xã hội hiện đại.
            2. Văn học dân gian
            Văn học dân gian là thuật ngữ chủ yếu được dùng từ những năm 50 trở lại đây. Thuật ngữ này ở nước ta còn gọi là văn chương bình dân, văn chương truyền khẩu, văn chương truyền miệng, văn học dân gian truyền miệng. Ở Trung Quốc, thuật ngữ văn học dân gian cũng rất thông dụng; trước đây vào thời kỳ Ngũ Tứ (4/5/1919), tên gọi văn học bình dân cũng được dùng để chỉ văn học dân gian. Ở Nga, các tên gọi văn học dân gian, văn học dân gian truyền miệng, thơ ca dân gian đều dùng để chỉ khái niệm sáng tác thơ ca dân gian; bên cạnh đó, thuật ngữ folklore, cũng được dùng để chỉ  nghệ thuật thơ ca dân gian1.
            Văn học dân gian ra đời từ thời xa xưa, từ rất lâu trước khi có chữ viết và văn học viết. Quy luật chung của nhiều nền văn  học trên thế giới đã cho thấy  văn học dân gian là cội nguồn, là cha đẻ của văn học bác học. Cả văn học dân gian và văn học đều thuộc nghệ thuật ngôn từ, dầu sử dụng chất liệu ngôn từ làm phương tiện biểu hiện nội dung tư tưởng - thẩm mĩ của tác phẩm; song sự vận dụng những phương tiện nghệ thuật trong văn học dân gian và trong văn học lại không hoàn toàn giống nhau. Chẳng những thế, xét về phương diện là tác phẩm ngôn từ thì giữa văn học dân gian với văn học (còn gọi là văn học bác học, văn học viết, văn học thành văn....) còn có sự khác biệt cơ bản ở phương thức sáng tác và lưu truyền của nó. Nếu tác phẩm văn học thể hiện rõ cá tính sáng tạo của tác giả, được sáng tác bằng chữ viết cố định trên giấy, thường có thời gian sáng tác và xuất xứ rõ ràng thì trái lại, tác phẩm văn học dân gian bao giờ cũng được sáng tác, lưu truyền bằng miệng và vô danh. Tác phẩm văn học dân gian chắc chắn lúc đầu được sáng tạo bởi những cá nhân riêng biệt có tài năng về nghệ thuật ngôn từ, có khả năng ứng tác lanh lợi, và nắm được những truyền thống tư tưởng - nghệ thuật của nhân dân, nên những công trình sáng tạo của họ luôn luôn dành cho toàn thể nhân dân, và do đó toàn dân sử dụng, lưu truyền rộng rãi. Cứ như thế tác phẩm văn học dân gian  được tiếp nhận và ghi nhớ tập thể; rồi trong quá trình lưu truyền diễn xướng bằng miệng, mỗi người trong đó lại vô tình hay hữu ý, tự do ứng tác thêm, nên họ đều trở thành đồng tác giả của người sáng tác đầu tiên. Ở dây, tính vô danh, tính tập thể đã trở thành nguyên lý đặc biệt quan trọng của văn học dân gian, mà từ đó làm nảy sinh một cách hợp quy luật cái gọi là tính biến dị của chúng. Mỗi tác phẩm văn học dân gian đều không có văn bản ổn định, cố định như  hầu hết các tác phẩm văn học bác học. Qua các thời đại khác nhau, ở các địa phương khác nhau, tác phẩm văn học dân gian đã trường tồn trong nhân dân với rất nhiều dị bản phù hợp với tâm lý, tư tưởng và quan điểm thẩm mĩ đương thời. Đương nhiên các dị bản đều có vai trò ngang nhau, nhưng có giá trị hơn vẫn là dị bản nào đầy đủ nhất và hoàn thiện nhất về mặt nghệ thuật.
            Một đặc điểm độc đáo nữa của văn học dân gian, bắt nguồn từ thời nguyên thuỷ là sự gắn bó giữa các hoạt động thực tiễn của nhân dân, cũng như mối liên hệ mật thiết của nó với các loại hình nghệ thuật dân gian khác nhau như âm nhạc, ca hát, nhảy múa, diễn xướng..., khi ấy những hình thức nghệ thuật dân gian  còn chưa chia tách một cách rõ ràng mà chúng thường hoà trộn trong một chỉnh thể thống nhất có tính nguyên hợp. Bởi vậy, việc tìm hiểu một tác phẩm văn học dân gian chỉ đạt hiệu quả cao khi được gắn chặt với việc tìm hiểu nghệ thuật diễn xướng trong sinh hoạt văn hoá dân gian tổng thể.
            Trong quá trình phát triển lịch sử, văn học dân gian Việt Nam về cơ bản được chia làm ba loại: tự sự, trữ tình và sân khấu dân gian - Nhóm các thể loại tự sự dân gian gồm: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, vè, sử ca dân gian, tục ngữ câu đố... - Nhóm các thể loại trữ tình dân gian gồm: ca dao, dân ca... - Nhóm các thể loại sân khấu dân gian gồm: tích trò và phần ngôn từ văn học dân gian trong các trò diễn, múa rối, hát chèo...
            Các thể loại văn học dân gian sở dĩ có những hình thức dị biệt, chính là bởi chúng đã được hình thành trong các điều kiện  lịch sử - xã hội khác nhau trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Mỗi thể loại đều có vai trò và ý nghĩa  vượt trội trong từng thời điểm lịch sử nhất định. Song nhìn chung, các hình thức thể loại ấy đều đã góp phần quan trọng để làm nên sự phong phú đa dạng cho bức tranh toàn cảnh của văn học dân gian Việt Nam.
Vật thể, phi vật thể
            Trong những năm gần đây cụm từ "văn hoá phi vật thể""văn hoá vật thể" được dùng rộng rãi, nhất là trong lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu về các loại hình, thể loại văn hoá văn nghệ dân gian. Khái niệm "vật thể" được dùng nhưng chưa được bàn đến nơi đến chốn1, chưa phân biệt rạch ròi ranh giới, giới hạn giữa hai thể loại, để từ đó nhận biết và khẳng định được loại hình văn hoá cụ thể, nhằm vào việc nghiên cứu, khảo sát, khai thác, bảo tồn và sử dụng có hiệu quả.
            1
Ngày  nay ai cũng hiểu  khái niệm đại thể, văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần bằng sự sáng tạo của mình. Đó là nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử được xác định trên cơ sở một tổng thể những đặc điểm khác nhau, hoặc giống nhau, biểu hiện trình độ văn minh, kiến thức khoa học và ý thức cao trong sinh hoạt xã hội. Vật, chỉ những hiện vật có hình khối, tồn tại trong không gian, thời gian có thể nhận biết được. Vật thể, vật cụ thể, về mặt nào đó có những thuộc tính vật lý nhất định (nặng, nhẹ, vuông tròn, dáng dấp...)
Như vậy, vật thể, cái hiện diện trông thấy được như lăng tẩm, đình chùa, miếu mộ, tượng đài, nhạc cụ, các loại chạm khắc bằng kim loại, gỗ, đá... Và phi vật thể, cái mà ta chỉ nghe biết, đọc như ca dao, dân ca, tục ngữ, hò vè, đối liễn, luật tục... bằng truyền khẩu, hoặc thành văn... đều mang yếu tố văn hoá và thật sự là giá trị văn hoá vật chất và tinh thần do con người và cho con người trong quá tình sáng tạo, phát sinh, phát triển và tồn tại.
2
Tuy nhiên, có những khái niệm vật thể chồng lấn và được nhìn nhận là "đồng nghĩa" hay "nước đôi", đều là hai mặt của một vấn đề, phải được hiểu không máy móc về nội hàm của sản phẩm văn hoá đó. Ví như chiếc áo dài Việt Nam, với tư cách là loại trang phục truyền thống dân tộc, được liệt vào "văn hoá phi vật thể", bởi nó là sự sáng tạo, biến tấu không ngừng, phô diễn tất cả những nét đẹp, màu sắc, hoa văn, mặc dầu nó là "vật thể" được làm ra bằng chất liệu vải vóc, tơ lụa, có hình dạng sờ nắm được. Tương tự cái đình, cái chùa, cuộc đua thuyền, chèo thuyền nào đó là những "vật thể", song không gian tín ngưỡng lâu đời tồn tại nơi chúng toạ lạc hoặc diễn ra gắn với nội dung lễ nghi, văn tế, liễn đối, hô hát lại rất trừu tượng và mang ý nghĩa "văn hoá phi vật thể". Ngay như các loại đàn (có những bộ sưu tập quý giá), nó là "vật thể", nhưng tiếng đàn với cung bậc, âm thanh đa dạng, đầy sắc thái và những bản nhạc bất hủ là thể loại"phi vật thể" v.v...
Rất nhiều những trường hợp hi hữu như vậy cần được tiếp tục nghiên cứu, thẩm định để có lý lẽ vững chắc khi gọi đích danh các di sản văn hoá đó là thuộc loại hình, thể loại nào. Điều nghe đơn giản, nhưng lại rất cần cho những người làm công tác văn hoá nghệ thuật, du lịch, ngoại giao, làm báo... nói riêng và cho tất cả chúng ta đang sống và quản lý một gia tài di sản văn hoá đồ sộ trải ra khắp mọi miền đất nước.
3
Để cụ thể hoá hai khái niệm và phân biệt hai loại di sản văn hoá "vật thể" và "phi vật thể" có những khía cạnh nêu trên, nhằm cung cấp tương đối đầy đủ kiến thức và sự nhận diện cần thiết. Mới đây không lâu, Nhà nước ta đã có nghị định nêu rõ trong từng điều khoản. Chúng ta coi đây là những điều mới mẻ và bổ ích cho tư duy rộng lớn hơn, trong quá trình tham gia vào việc thực thi tốt sự nghiệp Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Chúng ta có cơ sở để tham khảo nắm bắt được sự phân biệt đó như sau:
"Di sản "văn hoá phi vât thể" bao gồm: Tiếng nói, chữ viết. Tác phẩm văn hoá, nghệ thuật và khoa học. Ngữ văn truyền miệng bao gồm thần thoại, tục ngữ, ngạn ngữ, thành ngữ, câu đố, ngụ ngôn, ca dao, truyện thơ dân gian, sử thi, trường ca, văn tế, lời khấn và các hình thức ngữ văn truyền miệng khác. Diễn xướng dân gian bao gồm âm nhạc, múa, sân khấu, trò chơi, trò nhại, giả trang, diễn thời trang, diễn người đẹp, hát đối và các hình thức khác. Lối sống, nếp sống thể hiện qua khuôn phép ứng xử, đối nhân xử thế. Luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ trong ứng xử với tổ tiên, ông bà, với cha mẹ, với thiên nhiên, ma chay, cưới xin, lễ đặt tên, hành động và lời chào, cùng các phong tục, tập quán khác. Lễ hội truyền thống bao gồm: Lễ hội có nội dung đề cao tinh thần yêu nước, yêu thiên nhiên, lòng tự hào dân tộc, chống ngoại xâm. Nghề thủ công truyền thống. Tri thức văn hoá dân gian bao gồm tri thức về y dược cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về thiên nhiên và kinh nghiệm sản xuất, về binh pháp, về kinh nghiệm sáng tác văn nghệ (học thuật), về trang phục truyền thống, về đất nước, thời tiết, khí hậu, tài nguyên, về sông, biển, núi, rừng và các tri thức dân gian khác.
Di sản "văn hoá vật thể" bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia1...
Với những quy định cụ thể như trên, quả di sản văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng, nó tiềm ẩn và hiện diện trong mọi ngóc ngách đời sống con người và xã hội. Việt Nam là một trong 10 nước trên thế giới sớm đưa khái niệm di sản văn hoá phi vật thể vào văn bản luật của Nhà nước. Trong năm 2003 này, lần đầu tiên thể loại "Nhã nhạc cung đình" ở Huế, "Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên", được tổ chức UNESCO, Liên Hiệp Quốc công nhận là di sản văn hoá nhân loại. Càng tự hào về đất nước ta có đến 6 di sản văn hoá thế giới đã và đang thu hút các giới nghiên cứu và du khách năm châu, bốn biển đến tham quan, tìm hiểu.
Trong xu thế đổi mới và phát triển của đất nước và từng vùng, miền, di sản văn hoá vật thể, phi vật thể càng được quan tâm nghiên cứu, sưu tầm giữ gìn và phát huy tốt bản sắc truyền thống vốn có, đồng thời ngăn ngừa và xoá bỏ những tập tục, tệ nạn lạc hậu phi văn hoá làm vẩn đục môi trường xã hội hiện tại. Đây là những vấn đề đặt ra vừa cấp bách vừa lâu dài vì một nền văn hiến Việt Nam đã và đang toả sáng hơn 4000 năm./.



1 Theo Hỏi - Đáp Folklore - Tap chí VHNT.
2 Ở Trung Quốc, thuật ngữ văn hoá dân gian  cũng là một danh từ được sử dụng rộng rãi trên báo chí và các công trình khoa học trong mấy thập kỷ gần đây. Hội văn nghệ dân gian Thượng Hải có cả một "tùng thư" mang tên "Trung Quốc dân gian văn hoá", đã xuất bản được nhiều tập.
1 Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974 ( trang 34, 35)
1 Theo Nguồn sáng dân gian, số 2, năm 2004.
1 Ý của nhà báo Giao Hưởng
1  Điều 2, Nghị định 92/2002 của Chính phủ.